Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm về đất nông nghiệp Theo FAO (1993), đất đai được hiểu theo nghĩa rộng là “diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó, bao gồm: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông, suối, đầm lầy), các lớp trầm tích sát bề mặt, cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước, hay hệ thống thoát nước, đường xá, nhà cửa.) Tại Việt Nam, theo mục đích sử dụng, đất được chia thành 3 nhóm chính: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng.
Đất nông nghiệp được quy định là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 1998). Đất nông nghiệp bao gồm các loại đất như: đất trồng cây hàng năm (gồm đất trồng lúa và đất trồng cây hàng năm khác); đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ; đất rừng đặc dụng; đất nuôi trồng thủy sản; đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2013). Trong giai đoạn KTXH phát triển, mức sống của con người còn thấp, công năng của đất là tập trung vào sản xuất vật chất, đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp chủ yếu là sản xuất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp để phục vụ nhu cầu thiết yếu: ăn, mặc, ở. Khi con người biết sử dụng đất đai vào cuộc sống cũng như sản xuất thì đất đóng vai trò quan trọng trong hiện tại và tương lai.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 Trong lịch sử phát triển của thế giới bất kỳ nước nào dù phát triển hay đang phát triển thì việc sản xuất nông nghiệp đều có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia. Sản phẩm nông nghiệp là nguồn tạo ra thu nhập ngoại tệ, tuỳ theo lợi thế của mình mà mỗi nước có thể xuất khẩu thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về nông sản phẩm đang trở thành một trong các mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất. Sử dụng đất nông nghiệp Sử dụng đất là các hoạt động của con người tác động vào đất đai nhằm thu lại lợi ích cao nhất, với nhiều mục đích khác nhau (mục đích phi nông nghiệp, mục đích nông nghiệp, du lịch.
Sử dụng đất đạt kết quả cao hay thấp còn tùy thuộc vào trình độ nhận thức con người, thể chế chính sách của nhà nước và kỹ thuật công nghệ được áp dụng. Sử dụng đất là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà mối quan hệ giữa người và đất đai. Theo Lal & Miller (1993), con người cần phải sử dụng đất khoa học và hợp lý. Sử dụng đất là cách con người khai thác đất và các tài nguyên gắn liền với đất phục vụ cho các lợi ích của mình (Meyer & Turner, 1996).
Có nhiều kiểu sử dụng: Sử dụng trên cơ sở sản xuất trực tiếp (cây trồng, đồng cỏ và gỗ rừng). Sử dụng trên cơ sở sản xuất thứ yếu/ gián tiếp (chăn nuôi). Sử dụng vì mục đích bảo vệ (chống suy thoái đất, bảo tồn đa dạng hóa loài sinh vật, bảo vệ các loài quý hiếm). Sử dụng đất theo các chức năng đặc biệt như đường sá, dân cư, công nghiệp, du lịch, an dưỡng.
Thực tế, sử dụng đất thường được hiểu đơn giản là các hoạt động làm thay đổi bề mặt trái đất của con người. Trong khi đó, khái niệm của quá PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 trình chuyển đổi sử dụng đất đề cập đến bất kỳ sự thay đổi trong hệ thống sử dụng đất từ một trạng thái này sang một trạng thái khác (Lambin & Meyfroidt, 2010). Nông nghiệp là một ngành sản xuất mà loài người sử dụng đất để có sản phẩm động vật và thực vật. Đó là hành vi tạo ra lợi ích từ sản xuất nông nghiệp thông qua việc sử dụng đất đai, lao động và vốn.
Khi nói đến nông nghiệp là đề cập đến cả 4 lĩnh vực: nông, lâm, ngư và chăn nuôi (Nhan Ái Tĩnh, 2002). Sử dụng đất nông nghiệp là hoạt động của con người tác động vào đất đai thông qua lao động và công cụ sản xuất để tạo ra sản phẩm nông nghiệp theo mong muốn. Sử dụng đất nông nghiệp đạt kết quả cao hay thấp tùy thuộc vào trình độ con người, cơ chế chính sách của nhà nước và kỹ thuật công nghệ được áp dụng vào sản xuất. Với tư cách là nhân tố của sức sản xuất, nhiệm vụ và nội dung của việc sử dụng đất nông nghiệp.
Trong sử dụng đất, FAO (1976) đưa ra khái niệm về loại sử dụng đất chính và loại sử dụng đất. - Loại sử dụng đất chính: là một phân nhánh chính (chủ yếu) của sử dụng đất nông thôn như nông nghiệp nhờ nước trời, nông nghiệp có tưới, đồng cỏ, lâm nghiệp hoặc sử dụng đất phục vụ giải trí. Loại sử dụng đất chính thường được xem xét trong các nghiên cứu đánh giá đất đai định tính hoặc khảo sát. - Loại sử dụng đất và kiểu sử dụng đất đai (Land Use Type - LUT): Loại sử dụng đất đai là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện tự nhiên, KTXH và kỹ thuật được xác định (Đào Châu Thu & Nguyễn Khang, 1998): Các thuộc tính loại sử dụng đất bao gồm quy trình sản xuất, các đặc tính về quản lý đất đai như kỹ thuật canh tác, sức kéo trong làm đất, đầu tư kỹ thuật và các đặc tính về KTXH như định hướng thị trường, vốn, lao động, vấn đề sở hữu đất đai.
PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 8 Có thể liệt kê một số loại sử dụng đất đai trong nông nghiệp khá phổ biến hiện nay như: chuyên để trồng lúa; chuyên để trồng màu; canh tác lúa - màu; dùng để trồng cây lâu năm; sử dụng đất để làm đồng cỏ; làm đất lâm nghiệp; nuôi trồng thuỷ sản, du lịch cảnh quan (giải trí).Các khái niệm chung về bền vững và nông sản bền vững * Khái niệm bền vững Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người và có thể dùng để trao đổi với bền vững khác. Bền vững là một phạm trù kinh tế phản ánh những mối quan hệ xã hội giữa người sản xuất và trao đổi bền vững. Sản phẩm lao động mang hình thái bền vững khi nó trở thành đối tượng mua bán trên thị trường (Nguyễn Lê Huy, 2010). Hàng hoá là sản phẩm của lao động dùng để trao đổi.
Sản xuất hàng hoá là sản xuất ra sản phẩm đem bán để thu về giá trị của nó trong đó có phần giá trị thặng dư để tái sản xuất và mở rộng quy mô (Vũ Thị Ngọc Trân, 1997). * Sản xuất nông sản bền vững Sản xuất bền vững là một khái niệm được sử dụng trong kinh tế chính trị Mac- Lenin dùng để chỉ về kiểu tổ chức kinh tế trong đó sản phẩm được sản xuất ra không phải là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của chính người trực tiếp sản xuất ra nó mà là để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của người khác, thông qua việc trao đổi, mua bán. Hay nói một cách khác, sản xuất bền vững là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm sản xuất ra là để bán. Trong kiểu tổ chức kinh tế này, toàn bộ quá trình sản xuất - phân phối - trao đổi - tiêu dùng đều thông qua mua - bán, thông qua thị trường và đều do thị trường quyết định (dẫn theo Trần Thị Lan Hương, 2008).
Trong nông nghiệp, sản xuất bền vững nông nghiệp là sản xuất trên quy mô rộng, có ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nhằm nâng cao năng suất cây trồng, sản xuất chuyên môn hóa, góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần của mỗi cá nhân và toàn xã hội (Trần Thị Lan Hương, 2008). PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 9 Như vậy, có thể hiểu, sản xuất nông nghiệp bền vững là sản xuất theo nhu cầu thị trường, tạo ra khối lượng nông sản bền vững ngày càng lớn đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế; khối lượng nông sản bền vững là một bộ phận của tổng sản phẩm nông nghiệp (Trần Xuân Châu, 2002). Nền nông nghiệp bền vững đặc trưng ở chỗ người nông dân quan tâm nhiều hơn đến thị trường tiêu thụ sản phẩm do họ sản xuất ra. Mục đích sản xuất không chỉ là tạo ra nhiều nông sản, mà quan trọng hơn là tạo ra nhiều lợi nhuận.
Sản xuất theo hướng nông nghiệp bền vững là đẩy mạnh thâm canh, chuyên môn hóa, sử dụng ngày càng nhiều máy móc, vật tư nông nghiệp, công nghiệp mới (trước thu hoạch và sau thu hoạch), nông nghiệp gắn liền với công nghiệp chế biến và dịch vụ nông nghiệp. Nghị quyết Đại hội Đảng XII của Việt Nam đã chỉ rõ Việt Nam cần tập trung xây dựng nền nông nghiệp công nghệ cao, bền vững lớn, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cho nông sản, nhưng phải bảo đảm phát triển bền vững, an ninh lương thực quốc gia và vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo đảm các tiêu chuẩn theo yêu cầu xuất khẩu, có khả năng tham gia hiệu quả vào chuỗi giá trị toàn cầu. Như vậy có thể hiểu, sử dụng đất nông nghiệp theo hướng bền vững chính là sử dụng đất nông nghiệp phục vụ / đáp ứng sản xuất nông sản bền vững. Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp Để đảm bảo cho cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không chỉ duy trì những khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất.
Có nhiều quan điểm sử dụng đất nông nghiệp khác nhau như: sử dụng đất theo quan điểm bảo tồn, sinh thái, hiệu quả, bền vững.