ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm gần đây việc phát triển các hệ thống canh tác mang lại hiệu quả trên nhiều mặt ở các tỉnh miền núi đang là vấn đề cấp thiết và đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta rất quan tâm. Với vùng nông thôn miền núi các chính sách đƣa ra đều hƣớng tới việc nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân và xã hội, bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trƣờng của các hệ thống canh tác tại miền núi có sự khác nhau và phụ thuộc nhiều vào việc chọn lựa các loại hình canh tác thích hợp với điều kiện từng vùng. Nếu việc chọn lựa các loại hình canh tác chỉ tính đến hiệu quả kinh tế - xã hội mà không tính đến hiệu quả môi trƣờng thì dễ dẫn đến làm cạn kiệt nguồn tài nguyên ở khu vực đó.
Ngƣợc lại, nếu chỉ xét đến hiệu quả môi trƣờng mà không chú ý đến hiệu quả kinh tế - xã hội thì việc nâng cao mức sống của ngƣời dân và phát triển kinh tế vùng là điều khó có thể thực hiện đƣợc. Trên thực tế, ở các vùng sản xuất nông lâm nghiệp, hiện tƣợng xói mòn rửa trôi trên các vùng đất dốc diễn ra rất mạnh, làm đất đai nghèo dinh dƣỡngdẫn đến năng suất cây trồng cũng giảm dần, ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống và kinh tế của ngƣời dân. Nhƣ vậy, nghiên cứu đánh giá và xây dựng các loại hình canh tác thích hợp cho từng vùng và tiểu vùng sinh thái là việc sử dụng các tài nguyên đất, nƣớc và lao động để mang lại hiệu quả kinh tế cao và bảo vệ môi trƣờng đƣợc bền vững. Huồi Tụ là một xã vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn của huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An, 100% là ngƣời dân tộc Mông, đời sống nhân dân trong xã chủ yếu phụ thuộc vào các hoạt động sản xuất nông - lâm nghiệp.
Tuy nhiên, hiện nay trên địa bàn đã và đang phát triển nhiều loại hình canh tác khác nhau. Song các loại hình canh tác này chủ yếu đƣợc khai thác và sử dụng đất đai bằng kinh nghiệm và với trình độ còn hạn chế nên hiệu quả của các loại hình canh tác còn hạn chế. Cho đến nay, xã Huồi Tụ vẫn còn thiếu những nghiên cứu về kết cấu và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 hiệu quả của các loại hình canh tác làm định hƣớng cho việc phát triển các loại hình canh tác hiệu quả. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có thể lựa chọn đƣợc một loại hình canh tác nông lâm nghiệp hợp lý và có tác động tích cực đến kinh tế, xã hội, môi trƣờng.
Loại hình canh tác đó phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất, phát huy đƣợc chức năng phòng hộ, đảm bảo tính bền vững lâu dài và nâng cao đời sống ngƣời dân tại xã Huồi Tụ nói riêng và huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An nói chung. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Huồi Tụ, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An” đã đƣợc đề xuất thực hiện. Kết quả đề tài là xác định thực trạng của công tác quản lý, sử dụng đất nông lâm nghiệp tại xã Huồi Tụ làm cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông lâm nghiệp trên địa bàn góp phần nâng cao đời sống cho ngƣời dân địa phƣơng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Trên thế giới Mỗi năm trên thế giới có 11 triệu ha rừng bị chặt hạ, 5-7 triệu ha đất bị mất khả năng sản xuất (FAO-UNEP, 1983). Tổ chức FAO đã tổng kết và chỉ ra rằng: “Xói mòn đất đóng vai trò chủ yếu trong việc làm suy thoái đất, đặc biệt là các nƣớc nhiệt đới ẩm và liên quan chặt chẽ đến môi trƣờng tự nhiên, điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, chính sách, chế độ, phƣơng thức sử dụng đất” [2]. Với thực trạng sử dụng đất nhƣ trên, thì việc nghiên cứu, đề xuất và thực hiện các biện pháp bón phân hợp lý, tăng năng suất cây trồng, lợi dụng đất một cách tổng hợp. Tuy nhiên, đồng thời với các biện pháp khai thác tiềm năng của đất thì con ngƣời phải luôn luôn có kế hoạch khôi phục sức sản xuất của đất, đó chính là vấn đề sử dụng đất tổng hợp và bền vững.
Trong quá trình sản xuất, con ngƣời đã có những phƣơng thức sử dụng đất thay đổi phù hợp với từng đối tƣợng cụ thể. Đứng trƣớc nhu cầu lƣơng thực của thế giới, các nhà khoa học đã thử nghiệm một số mô hình sử dụng đất trên phạm vi toàn cầu và đã đạt đƣợc một số kết quả khả quan. Nhiều công trình nhƣ: sử dụng cây họ Đậu, cây phân xanh trồng xen với cây trồng chính có tác dụng che phủ, hạn chế sự xói mòn, tăng đạm cho đất, bổ sung nguồn phân bón đáng kể cho đất [3]. Theo Zakhatop, Lucton, Sevich thì việc bón phân hữu cơ có tác dụng chống xói mòn rất tốt.
Việc sử dụng phân bón là biện pháp chống xói mòn có hiệu quả, bón phân thúc đẩy cây sinh trƣởng tốt, tạo độ che phủ. Khi bón phân hữu cơ, đất sẽ có cấu trúc tốt hơn, khả năng ngấm nƣớc cao hơn, thúc đẩy vi sinh vật hoạt động. Do đó, tính chất đất đƣợc cải thiện rõ rệt [3]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Trên thế giới mô hình sử dụng đất đầu tiên là du canh (Shifting cultivation) đó là những hệ thống nông nghiệp trong đó đất đã đƣợc phát quang để canh tác trong một thời gian ngắn hơn thời gian bỏ hóa (Conklin, 1957).
Sau du canh là sự ra đời của các phƣơng thức Taungya (canh tác đồi núi) ở vùng nhiệt đới hệ thống canh tác Taungya đƣợc cải tiến sửa đổi và dần dần đƣợc hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và đƣợc coi nhƣ là một hệ thống sử dụng có hiệu quả về kinh tế lẫn môi trƣờng sinh thái. Một số phƣơng thức sử dụng đất có hiệu quả cao lâu bền trên đất dốc là mô hình SALT (Sloping Agriculture Land Technology) đƣợc Trung tâm phát triển đời sống nông thôn Bastptit Mindanao Philippines tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa năm 1997 đến nay [4]. Các mô hình đó không chỉ đƣợc ứng dụng và phát triển rộng rãi ở Philippines mà còn đƣợc các nhóm cộng tác quốc tế và khu vực tiếp cận và ứng dụng. - Mô hình SALT1 kỹ thuật canh tác đất nông nghiệp.
Đây là mô hình tổng hợp dựa trên cơ sở phối hợp tốt các biện pháp bảo vệ đất đối với sản xuất lƣơng thực. Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên đất dốc với cơ cấu cây đƣợc sử dụng để đảm bảo SALT1: 75% diện tích đất nông nghiệp (50% là cây hàng năm và 25% cây lâu năm) ổn định, có hiệu quả và 25% cây lâm nghiệp. - Mô hình SALT2 (Simple Agrolivestock Technology): là mô hình kinh tế nông súc kết hợp đơn giản với cơ cấu 40% cho nông nghiệp + 20% lâm nghiệp + 20% chăn nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại [5]. - Mô hình SALT3 (Sustainable Agro - Forest Technology) - Kỹ thuật canh tác lâm nghiệp bền vững.
Đây là mô hình sử dụng đất tổng hợp dựa trên cơ sở kết hợp trồng rừng quy mô nhỏ với việc sản xuất lƣơng thực thực phẩm. Cơ cấu sử dụng đất thích hợp ở đây là 40% đất dành cho nông nghiệp, 60% dành cho lâm nghiệp [5]. - Mô hình SALT4 (Small AgroFruit Likelihood Technology) - Mô hình kỹ thuật sản xuất nông nghiệp với cây ăn quả quy mô nhỏ. Trong mô hình này, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ngoài đất đai dành cho nông nghiệp - lâm nghiệp, cây hàng rào xanh còn dành ra 1 phần để trồng cây ăn quả.
Cơ cấu sử dụng đất dành cho lâm nghiệp 60%, nông nghiệp 15% và cây ăn quả 25%. Đây là mô hình đòi hỏi đầu tƣ cao cả về nguồn lực, vốn và kỹ thuật canh tác [5]. Một số hệ thống nông lâm kết hợp Đông Nam Á: Ở Philippines: Các khu vực trồng rừng đƣợc xen canh với hoa màu nông nghiệp có sự tham gia của ngƣời dân [6]. Hệ thống nông lâm nghiệp ở Trung Quốc: Là hệ thống nông nghiệp dựa vào cây gỗ gồm rừng và cây công nghiệp với quy mô lớn để sản xuất gỗ.
Ví dụ: hệ thống cây linh sâm xen với cây hoa màu trồng trong giai đoạn khi mới trồng rừng và một số mô hình nông lâm kết hợp khác của Trung Quốc nhƣ trồng xen cây hoa màu với Paulownia [6]. Các chƣơng trình xã hội và xóa đói giảm nghèo. - Y tế và an toàn lƣơng thực. Trên đây là những tài liệu liên quan đến vấn đề sử dụng đất, các hệ thống canh tác và các phƣơng pháp tiếp cận nông thôn mới trên thế giới đã đƣợc các tác giả nghiên cứu và đƣợc áp dụng trên nhiều quốc gia.Có thể coi các tài liệu nói trên làm cơ sở để các nƣớc áp dụng trong công tác quy hoạch sử dụng đất.
Ở Việt Nam Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp, phần lớn diện tích và dân số sống ở nông thôn.Việc phát triển các hệ thống canh tác phù hợp có nhiều ý nghĩa đối với ngƣời dân, đặc biệt là ngƣời dân nông thôn miền núi, vùng sâu vùng xa. Trong những năm gần đây, các nhà khoa học trong nƣớc không ngừng nghiên cứu tìm hiểu các hệ thống canh tác trên thế giới cũng nhƣ tại Việt Nam nhằm chọn lựa và tìm ra hệ thống phù hợp với điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội của từng địa phƣơng, từng vùng lãnh thổ. Nhiều nghiên cứu về phát triển nông lâm nghiệp đã đƣợc tiến hành, kết quả thu đƣợc đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp phát triển kinh tế vùng đồi núi của Việt Nam. Đảm bảo sử dụng tốt các nguồn lợi LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 và các mối quan hệ của sinh thái với hiệu quả đầu tƣ là cao nhất nhằm phát triển sản xuất, khai thác đƣợc hết các điều kiện đặc trƣng của từng vùng.
Ngƣời ta đã nhận thức đƣợc rằng vấn đề phát triển nông nghiệp trong tƣơng lai cần có kế hoạch lâu dài, kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên để đảm bảo thực sự tính bền vững và phát triển.Cần tiến tới một chế độ canh tác khai thác hợp lý trên đất dốc nƣơng rẫy ở vùng đồi núi Việt Nam.