CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về sản xuất nông nghiệp nông nghiệp 1. Khái niệm đất nông nghiệp Luật đất đai năm 2013 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác”. Luật đất đai các năm 1993, 1998, 2003, 2013 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần rất quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng”.
Đất đai là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất, nó là nơi con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm. Trong nông nghiệp, đất đai vừa là đối tượng lao động, vừa là tư liệu lao động. Như vậy, đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà cung cấp chất dinh dưỡng nuôi cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành chăn nuôi phát triển. Với ý nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội.
Ở nước ta với hơn 70% dân số làm nông nghiệp nên vấn đề phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu tạo cơ sở vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (Hội nông dân Việt Nam, 2015). Các quan điểm về hiệu quả sản xuất nông nghiệp Sản xuất nông nghiệp nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong 13 muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia và quá trình sản xuất nông nghiệp (Nguyễn Thị Vòng và cs, 2001). Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng và vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao.
Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa vừa mang tính ổn định vừa đảm bảo sự bền vững. Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng, việc xác định đúng khái niệm và bản chất hiệu quả sản xuất nông nghiệp phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường (Vũ Thị Phương Thụy, 2000). Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp * Hiệu quả kinh tế: Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội (Vũ Thị Phương Thụy, 2000). Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hoá các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo công ăn việc làm cho lao động, xoá đói giảm nghèo, định canh, định cư, công bằng xã hội, nâng cao mức sống của toàn dân.
* Hiệu quả môi trường: Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái. Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sản xuất nông nghiệp nông nghiệp Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp nông nghiệp gồm các yếu tố điều kiện tự nhiên (đặc điểm lý, hoá tính của đất, nguồn nước và chế độ nước, địa hình, vị trí địa lý, khí hậu), biện pháp kỹ thuật canh tác; các yếu tố kinh tế - xã hội (cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp, thị trường tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thủy sản, trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất, hệ thống chính sách, vốn đầu tư). Nhóm các vấn đề về điều kiện tự nhiên Bao gồm điều kiện khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình, thổ nhưỡng, môi trường sinh thái, nguồn nước. Chúng có ảnh hưởng một cách rõ nét thậm chí quyết định đến kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp.
Đặc điểm lý, hóa tính của đất: Trong sản xuất nông lâm nghiệp, thành phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất,. quyết định đến chất lượng đất và sản xuất nông nghiệp. Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu, có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Nguồn nước và chế độ nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh vật sinh trưởng và phát triển.
Địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ nhưỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì của đất có ảnh hưởng đến sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi. Vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng, nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp,. sẽ quyết định đến khả năng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, trong thực tiễn sản xuất nông nghiệp lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt hiệu quả cao nhất về kinh tế, xã hội và môi trường (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1998).
Nhóm các vấn đề kinh tế - xã hội 15 Bao gồm rất nhiều nhân tố (chế độ xã hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trường chính sách,.) các yếu tố này có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp: trong các yếu tố cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất, nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch vụ những yếu tố đầu vào cho sản xuất. Các yếu tố khác như thủy lợi, điện, thông tin liên lạc, dịch vụ đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Trong đó, thủy lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong sản xuất hiện nay.
Các yếu tố còn lại cũng hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp. Thị trường tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản là cầu nối giữa người sản xuất và tiêu dùng, ở đó người sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hóa, điều này giúp cho họ thực hiện được tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo. Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sản xuất nông nghiệp thể hiện khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất. Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách định canh định cư, chính sách dân số, lao động việc làm, đào tạo kiến thức, chính sách khuyến khích đầu tư, chính sách xóa đói giảm nghèo.
các chính sách ngày có những tác động rất lớn đến vấn đề sản xuất nông nghiệp, phát triển và hình thành các loại hình sản xuất nông nghiệp mới đặc biệt là đối với đối tượng là đồng bào dân tộc tại chỗ (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1998). Nhóm các yếu tố tổ chức, kỹ thuật Đây là yếu tố chủ yếu hết sức quan trọng trong quy hoạch sản xuất nông nghiệp, một bộ phận không thể thiếu được của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế 16 - xã hội. Quy hoạch sản xuất nông nghiệp phải dựa vào điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của từng vùng mà xác định cơ sở cho việc phát triển hệ thống cây trồng, gia súc với cơ cấu hợp lý và đạt hiệu quả kinh tế cao (Hội khoa học kinh tế Việt Nam, 1998). Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam 1.
Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau thời kỳ đổi mới Trong suốt thời kỳ đổi mới, một loạt các chính sách và văn bản luật trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, đặc biệt liên quan đến vấn đề sử dụng đất đai đã ra đời. Những chính sách quan trọng nhất là Luật Đất đai năm 1993, sau đó là Luật đất đai sửa đổi năm 2003; Nghị định 64/CP năm 1993 và Nghị định 02/CP năm 1994 về quy định phân bố đất rừng và đất nông nghiệp. Bên cạnh đó cũng có một loạt các chính sách liên quan đến hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn đề về đất đai. Theo Luật đất đai năm 1993, hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài với 5 quyền: Quyền chuyển nhượng, quyền chuyển đổi, quyền cho thuê, quyền thừa kế và quyền thế chấp.
Người có nhu cầu sử dụng được giao đất trong thời hạn 20 năm đối với cây hàng năm, 50 năm đối với cây lâu năm. Việc giao đất sẽ được tiến hành tại thời điểm cuối chu kỳ giao đất nếu như người sử dụng đất vẫn có nhu cầu sử dụng.