Tổng quan nghiên cứu
Khu công nghiệp Yên Phong tại tỉnh Bắc Ninh có quy mô diện tích 658 ha và đã thu hút hơn 10 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trở thành một trong những động lực phát triển kinh tế hàng đầu khu vực phía Bắc. Sự bùng nổ của hơn 30 doanh nghiệp cùng khoảng 25.000 công nhân làm việc tại khu công nghiệp, chiếm từ 15,4% đến 16,6% tổng dân số toàn huyện Yên Phong, đã kéo theo làn sóng gia tăng dân số cơ học nhanh chóng tại các khu vực dân cư lân cận. Áp lực đô thị hóa tự phát cùng sự xuất hiện dày đặc của các chuỗi dịch vụ ăn uống, nhà trọ và thương mại đã khiến lượng rác thải sinh hoạt phát sinh tại 4 thôn lân cận gồm Ấp Đồn, Chính Trung, Trần Xá thuộc xã Yên Trung và Ô Cách thuộc xã Đông Tiến đạt tới khoảng 34,02 tấn/ngày trên tổng quy mô 21.133 nhân khẩu. Khối lượng này xấp xỉ tổng lượng phát sinh của toàn bộ 7 thôn thuộc thị trấn Chờ, trung tâm hành chính huyện Yên Phong với khoảng 36 tấn/ngày.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực trạng hơn 1.133 tấn rác thải đang bị tồn đọng nghiêm trọng tại các bãi trung chuyển lộ thiên ở 4 thôn, gây ô nhiễm không khí, nguồn nước và đe dọa trực tiếp đến đời sống dân sinh. Mục tiêu cụ thể của luận văn là nhận diện cơ chế tương tác, đánh giá hiệu quả phối hợp giữa các bên liên quan gồm chính quyền địa phương, tổ thu gom, doanh nghiệp môi trường và cộng đồng theo các tiêu chuẩn phân cấp tại Nghị định 38/2015/NĐ-CP, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt và thúc đẩy xã hội hóa bảo vệ môi trường. Phạm vi dữ liệu và không gian nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt giai đoạn 2012 đến 2017 tại 4 thôn trọng điểm tiếp giáp trực tiếp hàng rào khu công nghiệp. Đóng góp của đề tài giúp chuẩn hóa bức tranh thực nghiệm về quản trị rác thải đa chủ thể tại các vùng nông thôn ven khu công nghiệp, thiết lập các chỉ số định lượng về tỷ lệ tham gia và mức độ tương tác làm cơ sở hoạch định chính sách môi trường bền vững.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn xây dựng khung phân tích dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết quản trị đa bên trong bảo vệ môi trường và mô hình quản lý tổng hợp chất thải rắn. Quản lý chất thải rắn sinh hoạt được định nghĩa là chuỗi hoạt động mang tính hệ thống liên tục, bao gồm các tiểu hệ thống thành phần: ngăn ngừa phát sinh, giảm thiểu, phân loại tại nguồn, thu gom, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý tiêu hủy cuối cùng. Mô hình quản trị nhấn mạnh sự chuyển dịch từ quản lý mệnh lệnh hành chính đơn thuần sang mô hình đồng quản lý và xã hội hóa bảo vệ môi trường, trong đó quyền lực và nghĩa vụ được chia sẻ cân bằng giữa cơ quan nhà nước, tổ chức tư nhân và cộng đồng dân cư.
Khung pháp lý của nghiên cứu bám sát các điều khoản từ Điều 140 đến Điều 146 thuộc Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 và Nghị định số 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu. Nghiên cứu cũng kế thừa nguyên lý tiếp cận 3R bao gồm giảm thiểu, tái sử dụng và tái chế từ các mô hình thành công trên thế giới. Điển hình như kinh nghiệm tại bang California của Mỹ với mức phí thu gom linh hoạt 16,39 USD/tháng kết hợp phí xử lý 32,38 USD/tấn; mô hình phân loại rác nghiêm ngặt của Singapore với hơn 300 công ty tư nhân tham gia thu gom; mô hình thành phố Horsholm tại Đan Mạch đạt tỷ lệ tái chế 61% và chỉ 4% chôn lấp; cùng chiến lược quản lý rác thải hữu cơ chiếm từ 40% đến 60% tại đảo Penang của Malaysia với chi phí xử lý khoảng 41 USD/tấn.
+--------------------------------------------------------+
| KHUNG QUẢN TRỊ ĐA BÊN THEO NGHỊ ĐỊNH 38/2015/NĐ-CP |
+--------------------------------------------------------+
|
+-------------------------+-------------------------+
| |
v v
+-----------------------+ +---------------------+
| Cơ Quan Quản Lý Nhà | | Chủ Nguồn Thải |
| Nước (Tỉnh, Huyện, Xã)| | (Hộ dân, Nhà trọ, |
| - Ban hành chính sách | | Dịch vụ ăn uống) |
| - Giám sát, đôn đốc | | - Phân loại 3R |
+-----------------------+ | - Nộp phí vệ sinh |
| |
| +-------------------------------+ |
+-------->| TIỂU HỆ THỐNG THU GOM & XỬ LÝ |<--------+
| - Tổ vệ sinh tự quản thôn |
| - Công ty dịch vụ môi trường |
| - Bãi trung chuyển & Nhà máy |
+-------------------------------+
^
|
+-------------------------------+
| Tổ Chức Xã Hội & Cộng Đồng |
| - UBMTTQ, Đoàn thanh niên |
| - Nhóm tự quản, Giám sát cơ sở|
+-------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu áp dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp giữa định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và khoa học toàn diện:
- Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành điều tra ngẫu nhiên phân tầng tại 4 thôn lân cận khu công nghiệp. Cỡ mẫu khảo sát thực tế thu thập thành công 398 phiếu hợp lệ trên tổng số 400 phiếu phát ra, phân bổ đều tại thôn Ấp Đồn với 100 phiếu, thôn Chính Trung với 100 phiếu, thôn Trần Xá với 99 phiếu và thôn Ô Cách với 99 phiếu. Phương pháp chọn mẫu phân tầng được áp dụng nhằm đại diện chính xác cho các nhóm đối tượng: hộ kinh doanh phòng trọ, hộ gia đình công nhân, hộ kinh doanh dịch vụ và hộ làm nông nghiệp.
- Phương pháp phỏng vấn sâu và chuyên gia: Thực hiện 10 phiếu phỏng vấn định hướng chuyên sâu gồm 4 lãnh đạo thôn, 2 bộ phỏng vấn cán bộ môi trường và các đoàn thể cấp xã tại Yên Trung và Đông Tiến, 3 tổ đội vệ sinh môi trường cơ sở và 1 cán bộ chuyên trách thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Phong.
- Công cụ đánh giá có sự tham gia của người dân: Sử dụng sơ đồ Venn để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các bên liên quan và phân tích ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong hoạt động quản lý rác thải sinh hoạt.
- Phương pháp thống kê và phân tích thứ cấp: Xử lý chuỗi số liệu thứ cấp giai đoạn 2012 đến 2017 về tình hình kinh tế, xã hội, biến động nhân khẩu học và khối lượng chất thải do Ủy ban nhân dân các xã và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện cung cấp. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu trực tiếp giữa khung quy định pháp lý với thực tiễn vận hành thực tế tại cấp cơ sở.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Quá trình điều tra thực địa và xử lý dữ liệu khảo sát mang lại 4 phát hiện then chốt về thực trạng quản lý chất thải rắn sinh hoạt xung quanh Khu công nghiệp Yên Phong:
Thứ nhất, cấu trúc kinh tế và nghề nghiệp nông thôn bị biến đổi sâu sắc do tác động lan tỏa từ khu công nghiệp. Tỷ lệ hộ làm nông nghiệp thuần túy sụt giảm mạnh chỉ còn từ 1% đến 10%, cụ thể tại thôn Chính Trung chỉ còn 1%, thôn Ô Cách là 2%, thôn Ấp Đồn là 8% và thôn Trần Xá là 10%. Ngược lại, tỷ lệ hộ kinh doanh phòng trọ cho công nhân thuê bùng nổ, chiếm từ 31% đến 52% tổng số mẫu điều tra, đạt đỉnh tại thôn Ô Cách với 52% và thôn Ấp Đồn với 48%. Tỷ lệ hộ gia đình là công nhân ngoại tỉnh sinh sống chiếm từ 27% đến 43%, dẫn đầu là thôn Chính Trung với 43%. Sự dịch chuyển này làm gia tăng nhanh chóng mật độ dân số cơ học và lượng rác sinh hoạt.
Thứ hai, khối lượng rác thải sinh hoạt phát sinh vượt quá ngưỡng đáp ứng của cơ sở hạ tầng nông thôn, dẫn đến tình trạng ùn ứ nghiêm trọng tại các bãi chứa tạm. Tổng lượng rác thải phát sinh hàng ngày tại 4 thôn đạt khoảng 34,02 tấn/ngày. Trong đó thôn Ấp Đồn phát sinh lớn nhất với 12,73 tấn/ngày, thôn Trần Xá phát sinh 11,11 tấn/ngày, thôn Ô Cách phát sinh 5,7 tấn/ngày và thôn Chính Trung phát sinh 4,48 tấn/ngày. Tổng lượng rác đang tồn đọng không thể giải tỏa tại 4 bãi tập kết lên tới 1.133 tấn, gồm thôn Ô Cách tồn đọng 513 tấn, thôn Ấp Đồn tồn đọng 250 tấn, thôn Trần Xá tồn đọng 250 tấn và thôn Chính Trung tồn đọng 120 tấn.
Thứ ba, sự thiếu đồng bộ và bất cập trong tổ chức mạng lưới thu gom tuyến cơ sở. Thôn Ô Cách có 1 tổ vệ sinh gồm 3 lao động với tần suất thu gom 2 ngày/lần; thôn Chính Trung có 1 người thu gom tần suất 3 đến 5 ngày/lần; thôn Ấp Đồn có 1 người thu gom tần suất 3 đến 5 ngày/lần. Đặc biệt, thôn Trần Xá với lượng rác lên đến 11,11 tấn/ngày lại không có tổ vệ sinh môi trường nào (0 tổ, 0 nhân sự thu gom). Hậu quả là 100% hộ dân tại Trần Xá phải tự mang rác vứt rải rác dọc đường và đổ tràn lan tại bãi tập kết tạm gây ô nhiễm nặng nề.
Thứ tư, sự đánh giá bất đối xứng về vai trò của các chủ thể tham gia quản lý rác thải. Trong 398 phiếu khảo sát, người dân đánh giá cao nhất vai trò của chính cộng đồng dân cư với 373 lượt lựa chọn (chiếm 93,7%) và nhóm tự quản cơ sở với 360 lượt lựa chọn (chiếm 90,5%). Ủy ban nhân dân cấp xã nhận được 351 lượt (chiếm 88,2%). Trong khi đó, các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội chỉ nhận được 117 lượt lựa chọn (chiếm 29,4%), phản ánh sự mờ nhạt trong các hoạt động phong trào môi trường thực tế tại địa phương.
+---------------------------------------------------------------------------------------+
| TỔNG HỢP HIỆN TRẠNG PHÁT SINH VÀ THU GOM RÁC THẢI TẠI 4 THÔN |
+------------+------------+---------------+----------------+------------+---------------+
| Thôn | Dân số | Rác phát sinh | Rác tồn đọng | Số nhân sự | Tần suất |
| | (Người) | (Tấn/ngày) | tại bãi (Tấn) | tổ vệ sinh | thu gom |
+------------+------------+---------------+----------------+------------+---------------+
| Ô Cách | 7.124 | 5,70 | 513 | 3 người | 2 ngày/lần |
| Chính Trung| 2.204 | 4,48 | 120 | 1 người | 3-5 ngày/lần |
| Trần Xá | 6.055 | 11,11 | 250 | 0 người | Tự đổ thải |
| Ấp Đồn | 6.367 | 12,73 | 250 | 1 người | 3-5 ngày/lần |
+------------+------------+---------------+----------------+------------+---------------+
| Tổng cộng | 21.133 | 34,02 | 1.133 | 5 người | |
+------------+------------+---------------+----------------+------------+---------------+
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng khủng hoảng rác thải tại khu vực nghiên cứu bắt nguồn từ sự đứt gãy trong cơ chế phối hợp giữa các bên liên quan. Giai đoạn phân loại tại nguồn hầu như bị bỏ trống do các cơ quan chuyên môn chỉ dừng lại ở công tác tuyên truyền chung chung qua loa phát thanh, thiếu hướng dẫn kỹ thuật chi tiết. Người dân không có động lực phân loại vì toàn bộ rác hữu cơ và vô cơ sau đó đều bị dồn chung lên xe đẩy về bãi tập kết. Tỷ lệ tái sử dụng chất thải tại hộ gia đình rất thấp, chủ yếu chỉ thu gom vỏ lon hoặc chai nhựa bán phế liệu, trong khi thức ăn thừa không còn được tận dụng cho chăn nuôi do các hộ đã chuyển đổi sang kinh doanh nhà trọ.
Cơ chế thu phí vệ sinh môi trường cào bằng theo định mức hộ dân mà không tính toán theo thể tích phát sinh thực tế hoặc số lượng phòng trọ đã tạo ra sự bất bình đẳng lớn. Một hộ gia đình đơn thuần nộp mức phí tương đương một hộ kinh doanh từ 20 đến 40 phòng trọ, làm thất thu nguồn kinh phí tái đầu tư cho tổ thu gom. Lực lượng thu gom quá mỏng với chỉ 5 công nhân phục vụ cho hơn 21.000 dân cư tại 4 thôn khiến áp lực công việc quá tải, thu nhập thấp không đủ duy trì hoạt động lâu dài.
So sánh với bức tranh chung toàn quốc theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, tỷ lệ thu gom rác thải nông thôn Việt Nam đạt trung bình khoảng 40% đến 55%, thấp hơn nhiều so với khu vực nội thành đô thị đạt 85%. Tại các khu vực bán đô thị hóa quanh khu công nghiệp như Yên Phong, tốc độ phát thải tương đương đô thị lớn nhưng hạ tầng và nguồn lực quản lý lại chỉ ở mức làng xã. Điều này hoàn toàn tương đồng với các bài học quốc tế tại Penang hay California: nếu không áp dụng công cụ kinh tế như định mức phí theo lượng thải và kiểm soát nghiêm ngặt trách nhiệm của chủ kinh doanh nhà trọ, bài toán ô nhiễm rác thải sẽ không thể giải quyết dứt điểm.
MỨC ĐỘ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC BÊN TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ (398 PHIẾU ĐIỀU TRA)
100% |============================================================|
90% | [■■■■■■■■■■■■■■■■■■■■] 93.7% Cộng đồng dân cư (373 phiếu)
80% | [■■■■■■■■■■■■■■■■■■] 90.5% Nhóm tự quản cơ sở (360 phiếu)
70% | [■■■■■■■■■■■■■■■■■] 88.2% UBND xã (351 phiếu)
60% | [■■■■■■■■■■■■■] 67.8% Tổ vệ sinh môi trường (270 phiếu)
50% | [■■■■■■■■■■■■] 66.3% Cơ quan quản lý cấp huyện (264 phiếu)
40% | [■■■■■■■■■■■] 61.6% Cơ quan quản lý cấp tỉnh (245 phiếu)
30% | [■■■■■■■■■■] 55.3% Công ty dịch vụ môi trường (220 phiếu)
20% | [■■■■■] 29.4% Tổ chức đoàn thể xã hội (117 phiếu)
0% +------------------------------------------------------------+
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả phân tích thực trạng và mô hình quản trị đa bên, 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao được đề xuất:
- Tái cấu trúc cơ chế thu phí dịch vụ thu gom rác thải sinh hoạt dựa trên khối lượng và quy mô kinh doanh. Ủy ban nhân dân xã Yên Trung và xã Đông Tiến cần ban hành quy chế thu phí mới áp dụng riêng cho các dãy nhà trọ công nhân và cơ sở dịch vụ ăn uống, chuyển từ thu cố định theo hộ sang định mức theo đầu người hoặc số lượng phòng thuê, mức phí từ 10.000 đến 15.000 đồng/phòng/tháng. Mục tiêu đạt 100% cơ sở kinh doanh trọ ký cam kết đóng phí vệ sinh trong vòng 6 tháng đầu triển khai, tạo quỹ ngân sách chi trả tăng thu nhập cho công nhân vệ sinh môi trường.
- Kiện toàn và thành lập mới các tổ đội vệ sinh môi trường chuyên trách tại cấp thôn. Ban lãnh đạo thôn Trần Xá phối hợp với Ủy ban nhân dân xã Yên Trung khẩn trương thành lập 1 tổ vệ sinh môi trường gồm tối thiểu 4 đến 6 lao động; đồng thời bổ sung trang thiết bị xe gom đẩy tay đạt chuẩn cho các thôn Ấp Đồn, Chính Trung và Ô Cách. Target metric nâng tần suất thu gom tại tất cả các thôn lên tối thiểu 1 ngày/lần, hoàn thành giải tỏa dứt điểm 1.133 tấn rác tồn đọng tại 4 bãi trung chuyển trong thời hạn 3 tháng dưới sự chủ trì của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Yên Phong.
- Thiết lập quy chế phối hợp liên ngành giữa Ban Quản lý Khu công nghiệp Yên Phong, doanh nghiệp FDI và chính quyền địa phương. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp cần đưa nội dung giáo dục nếp sống văn minh và giữ gìn vệ sinh nơi cư trú vào chương trình đào tạo nhập môn cho công nhân. Ban quản lý KCN trích quỹ trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hỗ trợ 30% kinh phí trang bị thùng rác phân loại 3 ngăn tại các khu trọ tập trung trong vòng 12 tháng.
- Xây dựng hương ước bảo vệ môi trường có chế tài xử phạt cụ thể tại cộng đồng dân cư. Ban công tác Mặt trận và các tổ tự quản cơ sở tại 4 thôn tiến hành lồng ghép các điều khoản không xả rác bừa bãi vào quy ước làng văn hóa, thiết lập đường dây nóng tiếp nhận phản ánh vi phạm môi trường. Mục tiêu giảm thiểu 40% lượng rác thải nhựa phát sinh và nâng tỷ lệ phân loại rác hữu cơ tại hộ gia đình lên trên 50% trong giai đoạn 1 năm tiếp theo.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:
- Cơ quan quản lý nhà nước về môi trường cấp huyện và xã: Cung cấp bức tranh thực tế về các điểm nghẽn hạ tầng và xung đột quyền lợi tại các địa bàn nông thôn chuyển dịch kinh tế nhanh, hỗ trợ cán bộ địa chính môi trường xây dựng đề án quản lý chất thải và tính toán đơn giá dịch vụ thu gom sát với thực tế.
- Ban Quản lý các Khu công nghiệp và cộng đồng doanh nghiệp: Là tài liệu tham khảo quan trọng giúp các nhà đầu tư hạ tầng khu công nghiệp nhận diện các tác động ngoại ứng tiêu cực của công nhân lên đời sống xã hội lân cận, từ đó xây dựng các chương trình trách nhiệm xã hội doanh nghiệp hiệu quả và gắn kết với địa phương.
- Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học ngành Khoa học Môi trường và Quản lý Đất đai: Cung cấp khung phương pháp luận kết hợp giữa công cụ đánh giá có sự tham gia của người dân (sơ đồ Venn, ma trận SWOT) với số liệu thống kê thực địa để nghiên cứu các mô hình sinh thái xã hội phức hợp tại Việt Nam.
- Các tổ chức xã hội dân sự, hợp tác xã và trưởng thôn, tổ trưởng dân phố: Hướng dẫn chi tiết cách thức xây dựng hương ước môi trường làng xã, tổ chức mạng lưới vệ sinh tự quản và huy động sức mạnh giám sát từ chính người dân cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguyên nhân chính khiến lượng rác thải tại các thôn quanh KCN Yên Phong tăng cao đột biến là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do biến động tăng dân số cơ học từ công nhân khu công nghiệp và sự bùng nổ của dịch vụ nhà trọ. Tỷ lệ hộ cho thuê trọ chiếm 31% đến 52%, dẫn đến lượng rác sinh hoạt tại 4 thôn lên tới 34,02 tấn/ngày, xấp xỉ toàn bộ thị trấn huyện.
2. Tại sao công tác phân loại rác thải tại nguồn ở khu vực nghiên cứu chưa đạt kết quả?
Do thiếu chính sách hướng dẫn thực chất và phương tiện thu gom đồng bộ. Người dân nhận thấy sau phân loại, rác vẫn bị thu gom lẫn lộn đưa ra bãi chứa tạm 1.133 tấn rác tồn đọng, khiến 90% hộ dân từ bỏ việc phân loại rác hữu cơ tại gia đình.
3. Tình trạng bãi rác thôn Trần Xá phản ánh lỗ hổng nào trong công tác quản lý?
Thôn Trần Xá phát sinh 11,11 tấn rác/ngày nhưng có 0 tổ thu gom và 0 nhân sự vệ sinh. Khoảng trống tổ chức này khiến các hộ dân tự mang rác vứt rải rác ven đường, chứng minh sự thiếu phối hợp giữa thôn và Ủy ban nhân dân xã trong phân bổ nhân sự.
4. Người dân đánh giá vai trò của các tổ chức đoàn thể xã hội như thế nào?
Theo khảo sát 398 phiếu, tổ chức đoàn thể chỉ nhận 117 lượt lựa chọn (chiếm 29,4%), xếp thấp nhất trong các bên liên quan. Điều này cho thấy các phong trào môi trường của đoàn thể còn mang tính hình thức, chưa đi sâu vào các hoạt động vệ sinh hàng ngày.
5. Giải pháp kinh tế nào giúp giải quyết bài toán thiếu kinh phí cho tổ vệ sinh thôn?
Cần chuyển đổi cơ chế thu phí rác sinh hoạt từ mức thu cào bằng sang tính theo đầu phòng trọ (10.000 - 15.000 đồng/phòng/tháng). Giải pháp này vừa tạo nguồn thu thỏa đáng cho công nhân thu gom, vừa buộc chủ trọ và công nhân nâng cao trách nhiệm giảm thiểu rác.
Kết luận
- Luận văn đã định lượng hóa toàn diện cuộc khủng hoảng rác thải sinh hoạt tại 4 thôn lân cận Khu công nghiệp Yên Phong với khối lượng phát sinh 34,02 tấn/ngày và tổng lượng rác tồn đọng lên tới 1.133 tấn tại các bãi chứa tạm.
- Xác định rõ mối tương quan giữa sự chuyển dịch ngành nghề kinh doanh phòng trọ (chiếm 31% - 52%) với sức ép quá tải lên hệ thống hạ tầng thu gom môi trường nông thôn.
- Chỉ ra sự bất cập lớn trong tổ chức thu gom khi 3 thôn chỉ có từ 1 đến 3 lao động vệ sinh, cá biệt thôn Trần Xá hoàn toàn không có tổ thu gom chuyên trách nào.
- Chứng minh vai trò then chốt của sự phối hợp đa bên, trong đó cộng đồng dân cư (93,7%) và nhóm tự quản (90,5%) là các chủ thể giữ sức ảnh hưởng quyết định đến tính bền vững của công tác quản lý.
- Đóng góp hệ thống giải pháp liên hoàn bao gồm cải cách phí dịch vụ nhà trọ, chuẩn hóa tổ thu gom thôn và gắn kết trách nhiệm của doanh nghiệp FDI trong lộ trình 6 đến 12 tháng tới.
Các cơ quan quản lý nhà nước, ban lãnh đạo doanh nghiệp và cộng đồng dân cư cần lập tức bắt tay vào việc thực thi quy chế phối hợp liên ngành, chuẩn hóa mạng lưới thu gom và ứng dụng công cụ kinh tế để giải quyết dứt điểm các điểm nóng ô nhiễm, hướng tới xây dựng một không gian phát triển công nghiệp gắn liền với an toàn sinh thái bền vững.