ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc lá là một trong những mối đe dọa sức khỏe cộng đồng lớn nhất mà thế giới phải đối mặt, giết chết hơn 8 triệu người mỗi năm trên toàn thế giới. Trong đó có hơn 7 triệu ca tử vong này là kết quả của việc sử dụng thuốc lá trực tiếp và khoảng 1,2 triệu ca tử vong do hút thuốc lá thụ động [1]. Tại Việt Nam, theo thống kê điều tra tình hình sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (GATS 2015), đã cho thấy có 22,5% dân số trên 15 tuổi đang hút thuốc lá, tương đương với 15,6 triệu người[2]. Khoảng 80% trong số 1,1 tỷ người hút thuốc trên toàn thế giới sống ở các nước thu nhập thấp và trung bình, nơi gánh nặng của bệnh tật và tử vong liên quan đến thuốc lá là nặng nhất.
Sử dụng thuốc lá góp phần làm tăng tỷ lệ nghèo đói do họ phải giảm bớt các nhu cầu cơ bản như thực phẩm và nơi ở. Hành vi chi tiêu này rất khó để kiềm chế vì thuốc lá mang tính chất gây nghiện. Nguyên nhân cơ bản gây nên những tác hại về sức khỏe này chính là do trong thuốc lá có khoảng 7000 chất hóa học, trong đó có 250 chất gây hại và ít nhất 69 chất gây ung thư [3][4][5]và đặc biệt có nicotin - một chất gây nghiện quyết định sự phụ thuộc và chống lại các cố gắng bỏ thuốc lá. Thuốc lá còn gây ra các bệnh lý mạn tính trầm trọng khác như đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính hay ung thư[6].
Bên cạnh đó, chi phí kinh tế của việc sử dụng thuốc khá là lớn, bao gồm chi phí chăm sóc sức khỏe để điều trị bệnh do sử dụng thuốc lá cũng như nguồn nhân lực lao động bị mất do bệnh tật và tử vong vì sử dụng thuốc lá. Trên toàn Thế giới mỗi năm ước tính sử dụng thuốc lá gây thiệt hại khoảng 500 tỷ đô la Mỹ. Tại Việt Nam, năm 2012 người dân Việt Nam đã chi 22 nghìn tỷ đồng cho mua thuốc lá, chưa kể các chi phí do bệnh lý mà hút thuốc lá gây ra là hơn 23 tỷ đồng mỗi năm. Chi tiêu về thuốc lá đã làm giảm các chi tiêu thiết yếu khác của hộ gia đình, đặc biệt gia đình có thu nhập thấp.
Các chi 2 tiêu này chiếm gần 5% ở những hộ nghèo cao hơn chi tiêu về y tế hay giáo dục[7]. Với xu thế hiện nay, ngày càng có nhiều phương pháp cũng như các chương trình phòng chống và cai nghiện thuốc lá ra đời. Về y học hiện đại, những phương pháp đã tiến hành như viên dán nicotine, laser, tâm lý liệu pháp. Y học cổ truyền cũng có nhiều phương pháp cai nghiện thuốc lá trong đó phương pháp nhĩ áp là một phương pháp được chứng minh có nhiều hiệu quả trong cai nghiện thuốc lá với tác dụng làm giảm hội chứng cai giúp bệnh nhân vượt qua khó khăn trong quá trình cai nghiện[8].
Triệu chứng của hội chứng cai là một rào cản lớn trong quá trình cai nghiện thuốc lá của bệnh nhân, các triệu chứng này gồm có: thèm thuốc, căng thẳng, cáu gắt, mất ngủ…liên quan nhiều đến sự rối loạn của hoạt động tâm thần kinh của cơ thể mà theo y học cổ truyền đó là sự mất thăng bằng về mặt âm dương. Chúng tôi nhận thấy luyện thở dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng là phương pháp có tác dụng cân bằng âm dương, thiên về tác động điều hòa hệ thống tâm thần kinh của cơ thể con người, ngoài ra tập luyện thở còn rất tốt cho những người bị bệnh hô hấp là những bệnh mà người hút thuốc rất hay gặp phải vì vậy mà luyện thở dưỡng sinh cũng là một phương pháp thích hợp để điều trị cai nghiện thuốc lá. Chính vì vậy chúng tôi lựa chọn hai phương pháp nhĩ áp và luyện thở dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng để tiến hành nghiên cứu “Đánh giá tác dụng của phương pháp nhĩ áp kết hợp luyện thở dưỡng sinh điều trị cai nghiện thuốc lá” để nâng cao hiệu quả điều trị với 2 mục tiêu: 1. Đánh giá tác dụng của phương pháp nhĩ áp kết hợp luyện thở dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng điều trị cai nghiện thuốc lá trên một số chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng.
Theo dõi tác dụng không mong muốn của phương pháp điều trị. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình sử dụng thuốc lá trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sử dụng thuốc lá trên thế giới Trong năm 2012, có 34 quốc gia có mức tiêu thụ thuốc lá trung bình ít hơn 10 điếu mỗi ngày, có 78 quốc gia có mức tiêu thụ trung bình từ 10 đến 20 điếu mỗi ngày và 75 quốc gia có mức tiêu thụ lớn hơn 20 điếu mỗi ngày.
Do sự gia tăng dân số trên 15 tuổi dẫn đến số lượng đàn ông và phụ nữ hút thuốc hàng ngày tăng liên tục, tăng từ 721 triệu (700 triệu - 742 triệu) vào năm 1980 lên 967 triệu (944 triệu - 989 triệu) trong năm 2012. Từ 1980 đến 2012, số lượng thuốc lá hút trên toàn thế giới đã tăng từ 4,96 nghìn tỷ (4,78 nghìn tỷ- 5,16 nghìn tỷ) lên 6,25 nghìn tỷ (6,07 nghìn tỷ - 6,44 nghìn tỷ) [9]. Ở Mỹ, gần 42 triệu người hút thuốc lá và hơn 3,5 triệu người là học sinh, sinh viên. Ở các nước châu Âu, tỷ lệ hút thuốc lá ước tính khoảng 28,6% dân số, trong đó 40% nam giới; 18,2% nữ giới[10].
Tình hình sử dụng thuốc lá tại Việt Nam. Theo điều tra toàn cầu năm 2010 về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành (trên 15 tuổi), Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ nam giới hút thuốc lá cao nhất thế giới với 47,4% nam giới trưởng thành hút thuốc. Rất may là tỷ lệ nữ hút thuốc còn thấp, chỉ chiếm 1,4% nữ giới trưởng thành (Điều tra toàn cầu về sử dụng thuốc lá ở người trưởng thành - GATS-2010) [11] Tỷ lệ hút thuốc vào năm 2015 có xu hướng giảm so với năm 2010, tỷ lệ hút thuốc chung là 23,8% năm 2010 và 22,5% năm 2015, tỷ lệ nam giới hút thuốc là 47,4% năm 2010 và 45,3% năm 2015 và tỷ lệ nữ giới hút thuốc là 1,4% năm 2010 và 1,1% năm 2015 [2]. Tổng quan về Thuốc lá 1.
Cây thuốc lá Cây thuốc lá còn gọi là Nicotiana thnam (Campuchia), Yên thảo (Trung Quốc), Tabac (Pháp). Có tên khoa học là Nicotiana tabacum L, thuộc họ Cà Salanaceae [12] Hình 1. Thuốc lá Thuốc lá là tên gọi của một sản phẩm được làm chủ yếu từ nguyên liệu là lá của cây thuốc lá được thái sợi và phơi khô sau đó được cuốn định hình bằng giấy, thường có dạng hình trụ. Thuốc lá thường có 2 đầu, một đầu đốt cháy để tạo khói, đầu còn lại được người sử dụng ngậm và hút khói vào đường hô hấp thông qua khoang miệng.
Thuốc lá điếu * Khói thuốc lá và các chất có trong khói thuốc lá[6]: 5 Nicotine: Tác dụng gây nghiện của nicotine một cách nhanh chóng đến não, trong vòng 10 giây sau khi hít vào. Tác dụng gây nghiện của nicotine chủ yếu là trên hệ thần kinh trung ương với sự có mặt của các thụ thể nicotine trên các tế bào thần kinh tại “trung tâm thưởng” ở hệ viền não bộ, các hóa chất trung gian dẫn truyền thần kinh bao gồm dopamin, serotonine, noradrenaline được phóng thích. Chúng gây ra nhiều tác động tâm thần kinh như là cảm giác sảng khoái, tâm trạng vui vẻ, tăng chú ý, tăng hoạt động nhận thức và trí nhớ ngắn hạn. Monoxit carbon (khí CO): Khí CO có nồng độ cao trong khói thuốc lá và sẽ được hấp thụ vào máu, gắn với hemoglobine với ái lực mạnh hơn 210 lần oxy.
Khí CO đi nhanh vào máu và chiếm chỗ của oxy trên hồng cầu. Ái lực của hemoglobine hồng cầu với CO mạnh gấp 210 lần so với O 2 và như thế sau hút thuốc lá, một lượng hồng cầu trong máu tạm thời mất chức năng vận chuyển O2 vì đã gắn kết với CO. Hậu quả là cơ thể không đủ oxy để sử dụng Các phân tử nhỏ trong khói thuốc lá: Khói thuốc lá chứa nhiều chất kích thích dạng khí hoặc dạng hạt nhỏ. Các chất kích thích này gây nên các thay đổi cấu trúc của niêm mạc phế quản dẫn đến tăng sinh các tuyến phế quản, các tế bào tiết nhầy và làm mất các tế bào có lông chuyển.
Các thay đổi này làm tăng tiết nhày và giảm hiệu quả thanh lọc của thảm nhày-lông chuyển. Phần lớn các thay đổi này có thể hồi phục được khi ngừng hút thuốc. Các chất gây ung thư:Trong khói thuốc lá có khoảng 70 chất có tính chất gây ung thư, ví dụ như hợp chất thơm có vòng đóng, Benzopyrene hay các Nitrosamine. Các hoá chất này tác động lên tế bào bề mặt của đường hô hấp gây nên tình trạng viêm mạn tính, phá huỷ tổ chức, biến đổi tế bào dẫn đến dị sản, loạn sản rồi ác tính hoá.
Tác hại của hút thuốc lá: Hút thuốc là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong sớm, có thể phòng ngừa được. Hút thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc lá gây ra khoảng 480.000 6 ca tử vong sớm mỗi năm tại Hoa Kỳ Trong số những trường hợp tử vong sớm, khoảng 36% là do ung thư, 39% là do bệnh tim và đột quỵ và 24% là do bệnh phổi [5]. Tỷ lệ tử vong ở những người hút thuốc cao hơn khoảng ba lần so với những người chưa bao giờ hút thuốc [13]. Hút thuốc gây hại cho gần như mọi cơ quan và hệ thống cơ quan trong cơ thể và làm giảm sức khỏe của người sử dụng thuốc lá.
Hút thuốc gây ung thư phổi, thực quản, thanh quản, miệng, cổ họng, thận, bàng quang, gan, tuyến tụy, dạ dày, cổ tử cung, đại tràng và trực tràng, cũng như bệnh bạch cầu tủy cấp tính. Hút thuốc cũng gây ra bệnh tim, đột quỵ, phình động mạch chủ ngực, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) (viêm phế quản mãn tính và khí phế thũng), bệnh tiểu đường, loãng xương, viêm khớp dạng thấp, viêm khớp dạng thấp và đục thủy tinh thể, và làm trầm trọng thêm các triệu chứng hen suyễn ở người lớn. Những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh viêm phổi, lao và các bệnh nhiễm trùng đường thở khác cao hơn [4]. Ngoài ra, hút thuốc gây viêm và làm suy yếu chức năng miễn dịch [5].
Hút thuốc làm cho phụ nữ khó mang thai hơn. Một người hút thuốc có thai có nguy cơ sảy thai cao hơn, mang thai ngoài tử cung, sinh con quá sớm và có cân nặng khi sinh thấp bất thường, và sinh con với khe hở môi và / hoặc hở hàm ếch [5].