Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Âu Thị Tiến (ngành Khoa học Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên, năm 2014) tập trung vào vấn đề bảo tồn loài linh trưởng đặc hữu tại Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Trong bối cảnh các loài linh trưởng quý hiếm tại Việt Nam đứng trước nguy cơ tuyệt chủng cao do săn bắn và suy thoái nơi sống, loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) (Pousargues, 1898) được xếp ở cấp Nguy cấp (EN) trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Sẽ nguy cấp (VU) theo Sách Đỏ Thế giới (IUCN, 2010). Quần thể loài này phân bố hẹp ở vùng Đông Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc với số lượng toàn quốc chỉ còn khoảng 100 cá thể. Báo cáo trước đó của Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Động Thực vật Hoang dã (FFI) ghi nhận KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng chỉ còn khoảng 7 – 8 cá thể sinh sống tại vùng lõi.

Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi ở các xã phía Bắc huyện Võ Nhai là một trong số ít khu vực còn lại diện tích rừng tự nhiên đáng kể của tỉnh Thái Nguyên, có tính đa dạng sinh học tương đồng với KBTTN Kim Hỷ (Bắc Kạn) và KBTTN Hữu Liên (Lạng Sơn). Khu bảo tồn được xác lập theo Quyết định số 3890/QĐ-UB ngày 07/12/1999 và Quyết định số 1604/QĐ-UBND ngày 08/07/2009 của Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên; Ban quản lý khu bảo tồn được thành lập theo Quyết định số 3043/QĐ-UB ngày 13/12/2010. Trước sức ép từ các hoạt động dân sinh lên sinh cảnh sống của loài, tác giả đã tiến hành đề tài nhằm đánh giá quần thể và đề xuất các giải pháp bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng bản địa.

Mục tiêu nghiên cứu được tác giả xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  • Mục tiêu chung: Đánh giá hiệu quả biện pháp phục hồi sinh cảnh có sự tham gia của người dân trong việc tham gia quản lý vào bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được những sinh cảnh sống chính của Voọc đen má trắng tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng.
    2. Đánh giá được tình trạng quần thể và những mối đe dọa đến sự tồn tại của loài này.
    3. Tìm hiểu vai trò của cộng đồng dân cư các dân tộc ở các xã (Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc) vùng lõi KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng trong việc tham gia bảo tồn Voọc đen má trắng.
    4. Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động tham gia của cộng đồng vào việc bảo tồn Voọc đen má trắng.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận gồm: loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) và cộng đồng dân cư các dân tộc thiểu số sinh sống tại các xã vùng lõi khu bảo tồn. Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung tại 03 xã vùng lõi: xã Thần Sa, xã Thượng Nung và xã Sảng Mộc thuộc huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và thu thập số liệu được thực hiện từ ngày 20 tháng 01 năm 2014 đến ngày 30 tháng 04 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên các khái niệm nền tảng về sinh thái học và lâm nghiệp cộng đồng:

  • Khái niệm bảo tồn: Trích dẫn định nghĩa của IUCN (1991) về sự quản lý và sử dụng sinh quyển bền vững cho thế hệ hiện tại và tương lai.
  • Bảo tồn sinh học (Biological Conservation): Phân biệt hai phương pháp chính gồm bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation) tương ứng với 6 hạng khu bảo tồn của IUCN và bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) phục vụ mục đích nhân giống, cứu hộ và lưu giữ nguồn gen.
  • Khái niệm cộng đồng: Dẫn chiếu Điều 3 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 về cộng đồng dân cư thôn bản và vai trò đồng quản lý tài nguyên.
  • Khái niệm đa dạng sinh học: Sử dụng định nghĩa của Lê Trọng Cúc (2002), bao gồm đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.

Khung pháp lý và điều ước quốc tế được khóa luận viện dẫn bao gồm:

  • Công ước quốc tế: Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (CITES, Việt Nam gia nhập ngày 20/04/1994); Công ước Đa dạng sinh học (CBD, ký kết năm 1992, thực thi năm 1994); Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB – UNESCO); Công ước về biến đổi khí hậu.
  • Văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam: Luật Bảo vệ môi trường (ngày 29/11/2005); Luật Bảo vệ và phát triển rừng (có hiệu lực từ ngày 01/04/2005); Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/03/2006 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (xếp Voọc đen má trắng vào Nhóm IB); Nghị định số 18/HĐBT ngày 17/01/1992; Nghị định số 80/2006/NĐ-CP và Nghị định số 81/2006/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
  • Bài học thực tiễn: Khảo cứu mô hình bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng quốc tế (Philippines, Sri Lanka, Bangladesh, Thái Lan) và các mô hình tại Việt Nam (Tổ bảo vệ rừng thôn Lạng tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ; Ban tự quản lâm nghiệp tại KBTTN Ngọc Sơn – Ngổ Luông – Hòa Bình; mô hình làng sinh thái lâm nghiệp vùng đệm KBTTN Phong Điền – Thừa Thiên Huế).

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý dữ liệu:

  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng phiếu hỏi: Thực hiện phỏng vấn 75 phiếu điều tra đối với các hộ dân sinh sống quanh vùng lõi. Tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên 25 người dân tại mỗi xã trong 03 xã vùng lõi (Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc). Nội dung phỏng vấn bao gồm hệ thống câu hỏi chung để phân loại nhận thức (đúng, sai, trung gian) và các câu hỏi sâu nhằm khai thác dữ liệu lịch sử xuất hiện loài, tập tính, vị trí ghi nhận và các mối đe dọa sinh cảnh.
  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ Ban quản lý KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng, Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên, các báo cáo khoa học của FFI, Trung tâm Tài nguyên Thực vật Rừng Việt Nam (PRCF-Vietnam, 2005), cùng các công trình nghiên cứu linh trưởng của Lê Hiền Hào (1973), Phạm Nhật (2000, 2002).
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích và xử lý số liệu: Ứng dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý, so sánh và phân tích tương quan các chỉ số điều tra.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu kết hợp giữa dữ liệu sơ cấp (thu được từ 75 phiếu điều tra cộng đồng và khảo sát thực địa năm 2013 - 2014) và dữ liệu thứ cấp (báo cáo thống kê lâm nghiệp, diễn biến rừng giai đoạn 2006 – 2013 và dữ liệu tuần tra giai đoạn 2008 – 2011 của Ban quản lý khu bảo tồn).

Nội dung chính theo từng phần của khóa luận

Cấu trúc khóa luận được trình bày thành 4 phần chính cùng phần kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo:

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tình trạng suy giảm nghiêm trọng của loài Voọc đen má trắng trên các khối núi đá vôi miền Bắc. Nêu rõ 1 mục tiêu chung và 4 mục tiêu cụ thể, xác định 3 yêu cầu thực hiện gắn liền với tính khả thi của giải pháp bảo tồn, đồng thời phân tích ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong công tác quản lý tài nguyên thiên nhiên tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết hệ thống lý thuyết về bảo tồn đa dạng sinh học (in-situ, ex-situ), lược khảo các điều ước quốc tế và quy định pháp luật của Việt Nam. Tác giả tổng thuật lịch sử nghiên cứu loài Voọc đen má trắng:

  • Phân loại học và tình trạng: Giống Trachypithecus tại Việt Nam có 7 loài và phân loài (T. francoisi, T. poliocephalus, T. delacouri, T. hatinhensis, T. ebenus, T. crepuscules, T. germaini).
  • Đa dạng khu hệ: KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng có diện tích quy hoạch 18.139 ha (số liệu so sánh với các khu bảo tồn núi đá vôi khác), sở hữu hệ động vật gồm 295 loài thuộc 93 họ, 30 bộ, 5 lớp động vật có xương sống; thống kê 31 loài động vật quý hiếm (trong đó có Voọc mũi hếch, Vượn Cao Vít, Báo gấm, Gấu ngựa, Hổ, Hươu xạ, Rắn hổ chúa...).
  • Thành phần thức ăn: Tổng quan danh mục 78 loài thực vật làm thức ăn cho Voọc đen má trắng dựa trên tài liệu nghiên cứu của PRCF-Vietnam (2005), bao gồm các loài ưu thế thuộc họ Moraceae, Euphorbiaceae, Vitaceae, Anacardiaceae, Ulmaceae...

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng khảo sát gồm quần thể Voọc đen má trắng và người dân 3 xã Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc. Trình bày chi tiết quy trình phát 75 phiếu phỏng vấn ngẫu nhiên, phương pháp phỏng vấn sâu thợ săn và người dân bản địa, phương pháp hồi cứu số liệu lịch sử và các công cụ thống kê xử lý dữ liệu thu thập từ ngày 20/01/2014 đến 30/04/2014.

Phần 4: Kết quả và phân tích kết quả nghiên cứu

Đây là nội dung thực nghiệm trọng tâm của khóa luận, phân tích các nhóm dữ liệu thu được:

  1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội: Vị trí tọa độ 105°51'05'' đến 106°08'38'' Đ, 21°45'12'' đến 21°56'30'' B. Địa hình núi đá chia cắt hiểm trở chiếm gần 87% diện tích, độ cao trung bình 700 m. Khí hậu chia 2 mùa (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5 năm sau; lượng mưa trung bình 2.500 mm; nhiệt độ trung bình 20,8°C). Thủy văn có mật độ dòng chảy bề mặt thấp do hiện tượng karst ngầm. Dân số vùng KBT gồm 23.355 nhân khẩu (5.530 hộ, 71 thôn bản, mật độ 44,6 người/km²), phân bố 5 dân tộc chính: Tày (46,8%), Dao (20,97%), Nùng (15,8%), Kinh (11,4%), H'Mông (7,5%). Tỷ lệ hộ sống phụ thuộc sản xuất nông nghiệp chiếm 85,7%.
  2. Biến động diện tích rừng và công tác quản lý: Diện tích đất rừng đặc dụng vùng lõi được quy hoạch ổn định ở mức 17.474,9 ha (từ năm 2009 đến 2013). Giai đoạn 2008 – 2011, Ban quản lý tổ chức 29 đợt truy quét (916 lượt người tham gia), lập biên bản xử lý 5.374 vụ vi phạm lâm luật, khởi tố hình sự 11 vụ, tịch thu 5.803 m³ gỗ quy tròn (trong đó có 2.415 m³ gỗ quý hiếm). Đầu năm 2012, lực lượng kiểm lâm đã tháo dỡ và tiêu hủy trên 40 lán trại dựng trái phép tại khu vực Lân Đất Đỏ.
  3. Hình thái, tập tính và số lượng quần thể Voọc đen má trắng:
    • Hình thái: Lông màu đen tuyền, sợi dài và thô, đỉnh đầu có mào lông đen, hai bên má có vệt lông trắng kéo dài quá chỏm tai. Kích thước cơ thể: chiều dài đầu và thân 506 – 610 mm; dài đuôi 775 – 900 mm; dài bàn chân sau 160 – 175 mm; cao tai 29 – 42 mm; khối lượng 5 – 7,2 kg. Hộp sọ: dài sọ 92 – 110,4 mm; dài khẩu cái 28,2 – 34 mm; rộng gò má 66,5 – 82 mm. Con non mới sinh lông màu vàng hoe, chuyển đen từ 3 tuần tuổi và hoàn thiện bộ lông trưởng thành sau 3 tháng.
    • Sinh cảnh và tập tính: Cư trú ở rừng giàu trên núi đá vôi có vách đá dựng đứng và hang hốc (mỗi đàn có ít nhất 2 chỗ ngủ). Hoạt động kiếm ăn ngày 2 buổi (sáng từ sớm đến 10h, chiều từ 14h đến 16h30; trưa nghỉ ngơi). Mùa nóng ngủ gờ đá hoặc ngọn cây cửa hang, mùa lạnh ngủ sâu trong hang. Thức ăn thực vật ghi nhận bước đầu gồm 47 loài thuộc 24 họ thực vật, khối lượng lá và cuống lá chiếm tỷ lệ áp đảo so với quả và hạt. Mùa sinh sản kéo dài từ tháng 3 đến tháng 7, mỗi lứa đẻ 1 con non (khối lượng sơ sinh 300 – 320 g).
    • Hiện trạng quần thể năm 2013: Toàn khu bảo tồn chỉ còn khoảng 14 cá thể, chia làm 2 đàn độc lập: Đàn 1 gồm 6 cá thể phân bố tại xóm Trung Thành (xã Thượng Nung); Đàn 2 gồm 8 cá thể phân bố tại xóm Kim Sơn (xã Thần Sa). Hai đàn cách xa nhau, địa hình chia cắt hoàn toàn, không có sự giao tiếp di truyền.
  4. Các mối đe dọa sinh cảnh: Xác định 5 mối đe dọa chính gồm: (1) Săn bắn bằng súng kíp và súng thể thao (do nam giới 25 – 50 tuổi thực hiện, cao điểm từ tháng 6 đến tháng 10); (2) Khai thác chọn gỗ Nghiến (Burretiodendron hsienmu) bừa bãi bằng cưa lốc máy; (3) Phá rừng làm nương rẫy luân canh với chu kỳ 5 – 6 năm bỏ hóa một lần; (4) Khai thác vàng máy móc tại Bản Ná thuộc vùng lõi; (5) Khai thác lâm sản ngoài gỗ (củi đốt lãng phí, tre nứa bán 2.000 đ/cây, song mây bán 7.000 đ/kg).
  5. Đề xuất giải pháp bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng: Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp kỹ thuật và xã hội: giảm thiểu đe dọa (thu hồi súng săn, chấn chỉnh khai thác khoáng sản), tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức tại trường học và thôn bản, củng cố tuần tra bảo vệ rừng liên tỉnh (Thái Nguyên – Bắc Kạn – Lạng Sơn), và phục hồi sinh cảnh bằng cách bảo vệ cây thức ăn tự nhiên.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp bức tranh định lượng chi tiết về hiện trạng sinh cảnh và số lượng quần thể loài Voọc đen má trắng tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng qua các mốc thời gian thực tế:

Tiêu chí theo dõi Hiện trạng năm 2009 Hiện trạng điều tra năm 2013
Số điểm phát hiện/ghi nhận 05 điểm (Lũng Hoài, Lũng Cà, Kim Sơn, Vách đá trắng, Lũng Hoành) 06 điểm (Bản Chương, Nghinh Tác, Vách đá trắng, Trung Thành, Hạ Sơn 2 lần)
Tổng số cá thể ước tính 12 – 14 cá thể Khoảng 14 cá thể
Cấu trúc phân bố đàn Rải rác theo nhóm nhỏ từ 2 đến 6 con Phân hóa thành 02 đàn biệt lập hoàn toàn: Đàn Trung Thành (6 con) và Đàn Kim Sơn (8 con)
Tình trạng nuôi nhốt Không ghi nhận Phát hiện 01 con non nuôi nhốt tại hộ dân ở Xóm Bản Chương

Bên cạnh dữ liệu quần thể, diễn biến rừng đặc dụng tại khu bảo tồn cũng được tác giả tổng hợp cụ thể qua bảng số liệu thực tế giai đoạn 2006 – 2013:

Loại đất / Loại rừng Diện tích năm 2006 (ha) Diện tích năm 2010 – 2013 (ha)
Đất rừng đặc dụng 18.121,2 17.474,9
Đất chưa có rừng 426,9 353,7
Rừng giàu 473,8 473,8
Rừng trung bình 3.390,2 3.390,2
Rừng phục hồi 5.357,4 5.357,4
Rừng hỗn giao 201,4 201,4
Rừng tre nứa 1,1 1,1
Rừng trồng 39,7 39,7

Hệ thống giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất dựa trên kết quả khảo sát:

  • Nhóm giải pháp giảm thiểu các mối đe dọa: Kiểm tra, thu hồi triệt để súng kíp và súng thể thao còn lưu giữ trong các hộ dân (đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông); xử lý dứt điểm hoạt động của doanh nghiệp và người dân khai thác vàng trái phép bằng máy móc tại Bản Ná; cấm triệt để việc dùng cưa máy khai thác gỗ Nghiến trong vùng lõi.
  • Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức: Đưa nội dung giáo dục bảo tồn thiên nhiên vào chương trình giảng dạy của 28 trường học thuộc 4 cấp học trong khu vực (1 trường THPT, 9 trường THCS, 10 trường tiểu học, 8 trường mầm non); tổ chức các buổi truyền thông lưu động tại 71 thôn bản.
  • Tăng cường tuần tra bảo vệ rừng: Bố trí các chốt kiểm lâm trực cố định sâu trong rừng nhằm ngăn ngừa tình trạng tái lập lán trại tại Lân Đất Đỏ; tăng cường cơ chế phối hợp tuần tra giáp ranh giữa 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn và Lạng Sơn; thành lập các tổ bảo vệ rừng cộng đồng có trả công nhật.
  • Biện pháp phục hồi sinh cảnh: Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự nhiên trên diện tích rừng nghèo và đất chưa có rừng (353,7 ha); bảo vệ nghiêm ngặt các loài cây bộ phận làm thức ăn chính cho Voọc thuộc các họ Moraceae, Euphorbiaceae; giữ nguyên vẹn cấu trúc các vách đá vôi có hang trú ẩn.

Đóng góp mới của khóa luận so với các tài liệu trước đó: Tác giả đã làm rõ sự biến động của quần thể Voọc đen má trắng tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng sau khi khu bảo tồn được tái xác lập năm 2009. Thay vì số lượng 7 – 8 cá thể theo ước tính sơ bộ của FFI, nghiên cứu thực địa năm 2013 đã định vị được sự tồn tại của 14 cá thể. Đồng thời, nghiên cứu phát hiện nguy cơ suy thoái cận huyết đặc biệt nghiêm trọng do sự cô lập cơ học giữa 2 đàn duy nhất (đàn 6 con tại xã Thượng Nung và đàn 8 con tại xã Thần Sa), tạo cơ sở thực tiễn cho việc quy hoạch hành lang sinh học bảo tồn loài.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế do điều kiện nghiên cứu thực tế được phản ánh trong văn bản:

  • Hạn chế về phương pháp: Thời gian điều tra ngắn (chỉ kéo dài hơn 3 tháng từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2014); việc đánh giá quy mô quần thể và tập tính của loài chủ yếu dựa vào phương pháp điều tra hồi cứu qua phỏng vấn 75 người dân địa phương và các ghi nhận gián tiếp (nghe tiếng kêu, lời kể thợ săn, quan sát cá thể nuôi nhốt), chưa thể thực hiện theo dõi liên tục bằng phương pháp đặt bẫy ảnh tự động (camera trap) hoặc lập tuyến điều tra sinh học dài hạn.
  • Hạn chế về phạm vi không gian: Địa hình núi đá vôi chiếm tới 87% diện tích với độ dốc lớn và nhiều vách dựng đứng hiểm trở khiến việc tiếp cận các hang ngủ và khu vực kiếm ăn của Voọc gặp nhiều trở ngại, chưa khảo sát đồng bộ được toàn bộ các xã vùng đệm còn lại.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Đề tài mở ra nhu cầu thiết lập các nghiên cứu chuyên sâu về di truyền phân tử để đánh giá mức độ giao phối cận huyết của 2 đàn Voọc tại xóm Kim Sơn và xóm Trung Thành; thực hiện đề án xây dựng hành lang sinh thái kết nối sinh cảnh giữa hai xã Thần Sa và Thượng Nung; đồng thời thử nghiệm mô hình giao khoán bảo vệ rừng gắn liền với sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc H'Mông và Tày ở vùng lõi khu bảo tồn.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Âu Thị Tiến là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng và công tác chuyên môn sau:

  • Sinh viên và học viên cao học: Là tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên Rừng, Lâm học và Sinh thái học khi xây dựng đề cương nghiên cứu đánh giá sinh cảnh, thiết kế phiếu điều tra phỏng vấn xã hội học cộng đồng tại vùng đệm các khu rừng đặc dụng.
  • Cơ quan quản lý và kiểm lâm địa phương: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực địa cho Ban quản lý KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng và Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên trong việc bố trí các chốt bảo vệ rừng cơ động, lập kế hoạch thu hồi vũ khí tự chế và kiểm soát khai thác vàng trái phép tại khu vực Bản Ná và Lân Đất Đỏ.
  • Các tổ chức bảo tồn linh trưởng: Các dữ liệu về tọa độ phát hiện, danh mục 47 loài cây thức ăn và tập tính sinh cảnh cung cấp thông tin cập nhật cho các tổ chức phi chính phủ (như FFI, PRCF) khi xây dựng chiến lược bảo tồn loài Trachypithecus francoisi cấp vùng Đông Bắc.
  • Phần đáng tham khảo nhất trong văn bản: Bảng dữ liệu số lượng cá thể phát hiện năm 2009 và 2013; phần mô tả chi tiết các số đo kích thước hình thái hộp sọ và cơ thể loài; cùng hệ thống phân tích nguyên nhân gốc rễ dẫn đến áp lực săn bắt và khai thác gỗ Nghiến của từng cộng đồng dân tộc bản địa.

Câu hỏi thường gặp

1. Số lượng cá thể và đàn Voọc đen má trắng tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng năm 2013 được ghi nhận cụ thể là bao nhiêu?
Theo kết quả điều tra và tổng hợp phiếu phỏng vấn năm 2013 của tác giả, toàn khu bảo tồn chỉ còn khoảng 14 cá thể Voọc đen má trắng, được chia thành 2 đàn sống biệt lập: Đàn thứ nhất gồm 6 cá thể phân bố tại khu vực xóm Trung Thành (xã Thượng Nung); Đàn thứ hai gồm 8 cá thể phân bố tại khu vực xóm Kim Sơn (xã Thần Sa). Do khoảng cách địa lý xa và địa hình núi đá chia cắt hiểm trở, hai đàn này hoàn toàn không có sự giao lưu, tiếp xúc với nhau.

2. Những mối đe dọa trực tiếp và nguy hiểm nhất đối với loài Voọc đen má trắng được khóa luận chỉ ra là gì?
Nghiên cứu chỉ rõ hai nhóm mối đe dọa gồm săn bắn và phá hủy sinh cảnh. Trong đó, nguy hiểm nhất là tình trạng săn bắn bằng súng kíp và súng thể thao của nam giới từ 25 – 50 tuổi (tập trung vào mùa hoa quả từ tháng 6 đến tháng 10). Về sinh cảnh, loài bị đe dọa trực tiếp bởi nạn khai thác gỗ Nghiến bằng cưa lốc, phá rừng làm nương rẫy luân canh 5 – 6 năm của người dân, tình trạng khai thác vàng sử dụng máy móc dựng lán trại tại Bản Ná, và việc thu hái củi, song mây, tre nứa quá mức.

3. Khóa luận ghi nhận những đặc điểm nào về thành phần thức ăn và tập tính sinh cảnh của Voọc đen má trắng?
Sinh cảnh điển hình của loài là rừng giàu trên núi đá vôi có nhiều vách đứng và hang động làm chỗ ngủ (mỗi đàn có ít nhất 2 chỗ ngủ). Chúng ăn chồi non, quả và lá cây rừng (không ăn động vật), trong đó khối lượng lá và cuống lá chiếm ưu thế. Tác giả bước đầu ghi nhận 47 loài thuộc 24 họ thực vật làm thức ăn cho loài này, trong đó các họ được ưa thích nhất gồm họ Dâu tằm (Moraceae), Ba mảnh vỏ (Euphorbiaceae) và Cau dừa (Arecaceae).

4. Dữ liệu phỏng vấn cộng đồng được tác giả thu thập với quy mô mẫu và địa bàn ra sao?
Tác giả đã lập và thực hiện phỏng vấn 75 phiếu điều tra đối với các hộ dân sống quanh vùng lõi khu bảo tồn. Mẫu được chọn ngẫu nhiên với số lượng đồng đều 25 người dân tại mỗi xã trong 03 xã vùng lõi thuộc huyện Võ Nhai, bao gồm: xã Thần Sa, xã Thượng Nung và xã Sảng Mộc.

5. Kết quả tuần tra và xử lý vi phạm bảo vệ rừng của Ban quản lý khu bảo tồn giai đoạn 2008 – 2011 đạt những số liệu gì?
Trong giai đoạn 2008 – 2011, Ban quản lý KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng đã phối hợp tổ chức 29 đợt truy quét với 916 lượt người tham gia. Lực lượng chức năng đã xử lý 5.374 vụ vi phạm lâm luật, khởi tố hình sự 11 vụ, tịch thu 5.803 m³ gỗ quy tròn (trong đó có 2.415 m³ gỗ quý hiếm), đồng thời dỡ bỏ và tiêu hủy trên 40 lán trại dựng trái phép tại khu vực Lân Đất Đỏ từ đầu năm 2012.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Âu Thị Tiến đã phản ánh trung thực và toàn diện hiện trạng nguy cấp của loài Voọc đen má trắng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng với quần thể chỉ còn khoảng 14 cá thể bị phân tách cơ học thành hai đàn độc lập. Nghiên cứu xác định rõ hệ quả tiêu cực từ các hoạt động săn bắn bằng súng tự chế, khai thác chọn gỗ Nghiến, đốt nương làm rẫy và khai thác vàng máy móc tại vùng lõi rừng đặc dụng. Kết quả khảo sát khẳng định việc nâng cao vai trò cộng đồng bản địa thông qua các đội tự quản, thu hồi vũ khí săn bắn, giáo dục học đường và xúc tiến phục hồi rừng tự nhiên là định hướng cấp thiết nhằm bảo tồn bền vững nguồn gen linh trưởng quý hiếm này.