MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Hiện nay, các loài linh trưởng là đối tượng quan tâm hàng đầu trong các chiến lược bảo tồn của các quốc gia và các tổ chức bảo tồn phi chính phủ. Ở Việt Nam, có nhiều loài linh trưởng rất quý hiếm như Voọc đen má trắng, Vượn cao vít, Voọc mũi hếch, Chà vá chân nâu… là những loài đặc hữu của Việt Nam và đa số đang bị sắn bắn nghiêm trọng và có nguy cơ tuyệt chủng. Các khu bảo tồn thiên nhiên, bảo tồn loài và sinh cảnh được thành lập liên tục trong những năm qua là để khắc phục tình trạng suy thoái và góp phần tích cực trong công tác bảo tồn thiên nhiên.
Hệ thống rừng núi đá tập trung ở các xã phía Bắc huyện Võ Nhai là một trong ít khu vực còn lại diện tích và trữ lượng rừng tự nhiên đáng kể trong tỉnh Thái Nguyên. Nằm trong vùng núi đá miền Bắc Việt Nam và có tính đa dạng sinh học như khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kim Hỷ (Bắc Cạn), KBTTN Hữu Liên (Lạng Sơn). Với tính đa dạng sinh học (ĐDSH) cao có thể khẳng định đây là một mẫu rừng đặc trưng cho hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi tỉnh Thái Nguyên. Nhằm bảo tồn tính đa dạng của khu vực, KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng thuộc huyện Võ Nhai - tỉnh Thái Nguyên được thành lập ngày 07/12/1999 theo Quyết định số 3890/QĐ - UB của Uỷ ban nhân dân (UBND) tỉnh Thái Nguyên.
KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng nằm cách thành phố Thái Nguyên khoảng 30 km về phía đông bắc. Tổng diện tích của Khu Bảo tồn (KBT) là 18.858,9 ha, trong đó rừng tự nhiên có 17.640 ha, rừng trồng 194 ha, đất không có rừng là 1. KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng là khu có hệ động vật phong phú với 295 loài trong 93 họ, 30 bộ, 5 lớp Động vật có xương sống. Hiện ở Việt Nam có khoảng 100 cá thể Voọc đen má trắng (VĐMT), trong đó theo báo cáo của FFI thì hiện tại có khoảng 7 - 8 cá thể VĐMT còn tồn tại trong KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng.
Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) (Pousargues, 1898) là loài linh trưởng quý hiếm, chỉ phân bố ở Trung Quốc và Việt Nam. Tại Việt Nam, loài này phân bố hẹp trong vùng Đông Bắc. Theo Sách Đỏ Thế giới (IUCN, 2010) xếp loài ở cấp 2 đe dọa VU còn Sách Đỏ Việt Nam 2007 xếp loài ở cấp EN. Chính vì vậy cần phải điều tra nhằm cung cấp những thông tin cơ bản về loài Voọc đen má trắng nói chung và đánh giá tình trạng quần thể VĐMT tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng làm cơ sở để đề xuất giải pháp bảo tồn loài linh trưởng quý hiếm này.
Trước tình hình đó, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS. Tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả một số biện pháp phục hồi sinh cảnh nhằm bảo tồn loài Voọc đen má trắng (trachypitheus francoisi) có sự tham gia của cộng đồng tại khu bảo tồn thiên nhiên Thần Sa – Phượng Hoàng, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung - Đánh giá hiệu quả biện pháp phục hồi sinh cảnh có sự tham gia của người dân trong việc tham gia quản lý vào bảo tồn đa dạng sinh học tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng. Mục tiêu cụ thể - Xác định được những sinh cảnh sống chính của VĐMT tại KBTTN Thần Sa - Phượng Hoàng.
- Đánh giá được tình trạng quần thể và những mối đe dọa đến sự tồn tại của loài này. - Tìm hiểu vai trò của cộng đồng dân cư các dân tộc ở các xã (Thần Sa, Thượng Nung, Sảng Mộc) vùng lõi KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng trong việc tham gia bảo tồn Voọc đen má trắng. - Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động tham gia của cộng đồng vào việc bảo tồn Voọc đen má trắng. Yêu cầu của đề tài: - Xác định quần thể Voọc đen má trắng tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng.
- Đánh giá vai trò của cộng đồng dân cư trong việc tham gia bảo tồn - Các giải pháp đưa ra cụ thể, thiết thực và có tính khả thi cao… 1. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3 - Đây là cơ hội cho học viên, sinh viên vận dụng những kiến thức đã học và những hiểu biết của mình về lĩnh vực đánh giá môi trường sinh thái, đa dạng sinh học và công nghệ tin học vào thực tiễn, đồng thời cũng có cơ hội nâng cao sự hiểu biết về việc bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. - Nâng cao kỹ năng sử dụng và tích hợp các phần mềm tin học ứng dụng.
Đề tài là cơ sở khoa học, tư liệu tham khảo có ý nghĩa cho sinh viên chuyên ngành môi trường, và các chuyên ngành có liên qian. Ý nghĩa trong thực tiễn - Kết quả nghiên cứu có thể giúp cho các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc thực hiện các chương trình, dự án bảo tồn đa dạng sinh học đối với các loài động vật quý hiếm, đặc biệt là loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) tại KBTTN Thần Sa – Phượng Hoàng. - Quy trình thực hiện có thể áp dụng để mở rộng quy mô và ứng dụng ở nhiều vùng trên toàn quốc, đặc biệt là các VQG, khu dự trữ sinh quyển, KBT, v. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Các khái niệm * Khái niệm bảo tồn Theo định nghĩa của IUCN (1991): “Bảo tồn là sự quản lý, sử dụng của con người về sinh quyển nhằm thu được lợi nhuận bền vững cho thế hệ hiện tại trong khi vẫn duy trì tiềm năng để đáp ứng những yêu cầu và nguyện vọng của thế hệ tương lai”. Khái niệm Bảo tồn sinh học (Biological Conservation) là biện pháp đặc biệt để duy trì và bảo vệ động thực vật quý hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng. Hiện có hai phương pháp bảo tồn sinh học đang được sử dụng là: - Bảo tồn nguyên vị (in-situ conservation) là khoanh vùng bảo tồn động, thực vật tại nơi gốc mà chúng sống. Bảo tồn nguyên vị bao gồm các phương pháp và công cụ nhằm mục đích bảo vệ các loài, các chủng và các sinh cảnh, các hệ sinh thái trong điều kiện tự nhiên.
Theo Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thì có 6 loại khu bảo tồn: Loại I: Khu bảo tồn nghiêm ngặt (hay khu bảo tồn hoang dã), Loại II : Vườn quốc gia, chủ yếu để bảo tồn các hệ sinh thái và sử dụng vào việc du lịch, giải trí , giáo dục; Loại III: Công trình thiên nhiên, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đặc biệt; Loại IV: Khu bảo tồn sinh cảnh hay các loài, chủ yếu là nơi bảo tồn một số sinh cảnh hay các loài đặc biệt cần bảo vệ; Loại V: Khu bảo tồn cảnh quan đất liền hay cảnh quan biển, chủ yếu bảo tồn các cảnh quan thiên nhiên đẹp, sử dụng cho giải trí và du lịch; Loại VI: Khu bảo tồn quản lý tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu quản lý với mục đích sử dụng một cách bền vững các hệ sinh thái và tài nguyên thiên nhiên. [10] - Bảo tồn chuyển vị (ex-situ conservation) là biện pháp di chuyển động thực vật từ nơi nguyên gốc mà chúng đã và đang sống đến nơi khác để gìn giữ bảo vệ, kể cả gìn giữ hay bảo quản toàn bộ hoặc một phần động thực vật trong điều kiện đông lạnh (cryo-reservation) ở trong phòng thí nghiệm. Mục đích của việc di dời này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu 5 giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Biện pháp này được áp dụng khá phổ biến, đặc biệt, trong trường hợp nơi ở nguyên gốc của động thực vật bị thu hẹp hoặc bị đe dọa khác cần phải di chuyển động thực vật để bảo vệ, nhân nuôi và thả lại tự nhiên hoặc phục vụ nghiên cứu, đào tạo, du lịch.
[10] * Khái niệm về cộng đồng Theo Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 “cộng đồng dân cư thôn là tập hợp toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”. - Cộng đồng trong công tác bảo tồn ĐDSH: Trong nhiều thập kỷ qua, chúng ta đã nhận thấy rằng các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG có vai trò quan trọng trong toàn bộ việc quy hoạch đất đai và phát triển kinh tế của đất nước. Các khu bảo tồn đã đem lại nhiều lợi ích cho nhân dân. Giá trị của các khu bảo tồn ngày càng được công nhận và có lẽ trong tương lai sẽ lớn hơn nhiều.
Các khu bảo tồn không những là nơi lưu trữ các vật liệu thiên nhiên để phát triển công nghệ sinh học cho ngành y tế, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp mà còn giữ chức năng tự nhiên của các hệ sinh thái, bảo vệ đất đai, điều hòa khí hậu, chống lại sự thay đổi khí hậu toàn cầu và giúp con người thích nghi với một thế giới đang thay đổi (Meneely, 1996). Mặc dầu các khu bảo tồn có tầm quan trọng như vậy, nhưng quản lý các khu bảo tồn quả thật không dễ dàng, nhất là đối với các nước đang phát triển. [5] Do vậy, một bài toán mà chúng ta cần phải giải là tạo nên sự gắn bó vốn đã có và phát huy vai trò và sự tham gia của mỗi cộng đồng cư dân vào việc bảo tồn các khu bảo tồn thiên nhiên, VQG. - Khái niệm đa dạng sinh học Đa dạng sinh học (Biodiversity) là sự giàu có, phong phú và đa dạng về nguyên liệu di truyền, về loài và các hệ sinh thái.
Vì vậy, đa dạng sinh học bao gồm đa dạng ở mức độ trong loài là sự đa dạng, phong phú các gen trong quần thể gọi là đa dạng di truyền hay đa dạng gen; đa dạng ở mức độ loài là 6 sự phong phú các loài gọi là đa dạng loài; và sự phong phú về các hệ sinh thái gọi là đa dạng sinh thái (Lê Trọng Cúc, 2002). Các công ước quốc tế 1. Về công ước quốc tế, Việt Nam đã tham gia nhiều chương trình như chương trình con người và sinh quyển (MAB – Man and Biosphere Programme) của UNESCO. Công ước CITES (Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp) vào năm 1994.