CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Những nghiên cứu về NLKH trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu về NLKH trên thế giới Đi sâu vào tìm hiểu cội nguồn lịch sử của NLKH King (1987) khẳng định rằng ở Châu Âu thời kỳ Trung Cổ người ta đã phát quang rừng, đốt cành nhánh và canh tác cây lương thực mục đích là để tận dụng dinh dưỡng của đất rừng. Tuy nhiên kiểu canh tác này không phổ biến và tồn tại lâu dài, nhưng ở Phần Lan và Đức kiểu canh tác này tồn tại đến mãi những năm 1920.Du canh được đánh giá là phương thức canh tác cổ xưa nhất lúc này con người đã tích lũy được ít nhiều những kiến thức sơ đẳng về tự nhiên.
Loài người đã vượt qua được các thời kỳ này bằng các cuộc cách mạng về kỹ thuật và chăn nuôi, trồng trọt, song không phải tất cả các nước mà có không ít các nước vận động rất chậm trong cuộc cách mạng này [59]. Sau du canh sự ra đời của phương thức Taungya ở vùng nhiệt đới được xem như là một sự báo trước cho phương thức NLKH sau này. Theo Blanford (1858) (dt Phạm Quang Vinh và cộng sự, 2005) [48] nguồn gốc của phương thức này là từ ngôn ngữ của địa phương Myanma: Taung nghĩa là canh tác, ya là đồi núi, như vậy Taungya là phương thức canh tác trên đất đồi núi, điều đó cũng đồng nghĩa với phương thức canh tác trên đất dốc. Sau đó hệ thống Taungya được đưa vào sử dụng rất sớm ở Ấn Độ và được truyền bá rộng rãi qua Châu Á, Châu Phi và Mỹ La Tinh.
Ngày nay hệ thống Taungya được biết đến với những tên gọi khác nhau, ở một số nước nó được gọi như là một sự biểu tượng đặc biệt của phương thức du canh ở Inđônêxia người ta gọi là Tumpansary, ở Philippin là Kaingyning, ở Malaixia là Ladang… Qua nhiều năm, nhiều khái niệm khác nhau được phát triển để diễn tả hiểu biết rõ hơn về NLKH. Sau đây là một số khái niệm về NLKH khác nhau được phát triển cho đến ngày nay. NLKH là một hệ thống quả lý đất vững bền làm gia tăng sức sản xuất tổng thể của đất đai, phối hợp sản xuất các loại hoa màu (kể cả cây trồng lâu năm), cây rừng và/hay với gia súc cùng lúc hay kế tiếp nhau trên 1 diện tích 5 đất, và áp dụng các kỹ thuật canh tác tương ứng với các điều kiện văn hóa xã hội của dân cư địa phương [51]. NLKH là một hệ thống quản lý đất đai trong đó các sản phẩm của rừng và trồng trọt được sản xuất cùng lúc hay kế tiếp nhau trên các diện tích đất thích hợp để tạo ra các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho cộng đồng dân cư tại địa phương [17].
NLKH là một hệ thống sử dụng đất trong đó phối hợp cây lâu năm với hoa màu và/ hay vật nuôi một cách thích hợp với điều kiện sinh thái và xã hội, theo hình thức phối hợp không gian và thời gian, để gia tăng sức sản xuất tổng thể của thực vật trồng và vật nuôi một cách bền vững trên một đơn vị diện tích đất, đặc biệt trong các tình huống có kỹ thuật thấp và trên các vùng đất khó khăn [63]. NLKH là tên chung của những hệ thống sử dụng đất trong đó các cây lâu năm (cây gỗ, cọ, tre, hay cây ăn quả, cây công nghiệp.) được trồng có suy tính trên cùng 1 đơn vị diện tích qui hoạch đất với hoa màu và/hoặc với vật nuôi dưới hệ thống xen theo không gian hay theo thời gian. Trong các hệ thống NLKH có mối tác động hỗ tương qua lại về cả mặt sinh thái lẫn kinh tế giữa các thành phần của chúng [61]. Các khái niệm trên đơn giản mô tả NLKH như là một loạt các hướng dẫn cho một hệ thống sử dụng đất liên tục.
Tuy nhiên, NLKH như là một kỹ thuật và khoa học đã được phát triển thành một điều gì khác hơn là các hướng dẫn. Ngày nay nó được xem như là một ngành nghề và một cách tiếp cận về sử dụng đất trong đó đã phối hợp sự đa dạng của quản lý tài nguyên tự nhiên một cách bền vững [60]. Vào năm 1997, Trung tâm Quốc tế nghiên cứu về NLKH (ICRAF) đã xem lại khái niệm NLKH và phát triển nó rộng hơn như là một hệ thống sử dụng đất giới hạn trong các nông trại. Ngày nay nó được định nghĩa như là một hệ thống quản lý tài nguyên đặt trên cơ sở đặc tính sinh thái và năng động nhờ vào sự phối hợp cây trồng lâu năm vào nông trại hay đồng cỏ để làm đa dạng và bền vững sự sản xuất cho gia tăng các lợi ích về xã hội, kinh tế và môi trường của các mức độ nông trại khác nhau từ kinh tế hộ nhỏ đến ‘‘kinh tế trang trại” [4], [17].
6 ICRAF đã định nghĩa nó như là một hệ thống quản lý tài nguyên tự nhiên năng động và lấy yếu tố sinh thái làm chính, qua đó cây được phối hợp trồng trên nông trại và vào hệ sinh thái nông nghiệp làm đa dạng và bền vững sức sản xuất để gia tăng các lợi ích kinh tế, xã hội và sinh thái cho người canh tác ở các mức độ khác nhau. Các định nghĩa trên chỉ ra những đặc trung cơ bản của NLKH đó là: - Thông thường có hai hoặc nhiều loài cây (có thể gồm cả động vật) nhưng ít nhất một trong chúng phải là những cây gỗ sống lâu năm. - Một hệ thống NLKH luôn có hai hoặc nhiều sản phẩm đầu ra. - Chu kỳ của một hệ thống NLKH dù đơn giản nhất vẫn phức tạp hơn hệ thống độc canh cả về phương diện kinh tế cũng như sinh thái học (bao gồm cả cấu trúc và chức năng sinh thái học).
Hơn thế ở đây còn có ba đặc tính mà xét về phương diện lý luận thì tất cả các hệ thống NLKH đều phải có đó là: Khả năng sản xuất; Tính bền vững; Tính khả khi [27], [29], [32], [50], [52]. Như vậy bản chất của hệ thống NLKH là hệ thống sử dụng đất để canh tác nông nghiệp nhưng có sự kết hợp giữa cây (hoặc/và) con nông nghiệp với cây lâm nghiệp trên cùng một đơn vị diện tích, đơn vị kinh doanh. Tuy nhiên sự kết hợp này có thể diễn ra đồng thời hoặc cũng có thể kế tiếp nhau về mặt không gian hay thời gian. Xét về thành phần một hệ thống NLKH gồm có: - Các cây thân gỗ sống lâu năm.
- Các cây thân thảo (Cây nông nghiệp hoặc cỏ.) - Vật nuôi (gia súc, gia cầm, thủy sản. Tóm lại: Mục đích cuối cùng của các hệ thống NLKH là tận dụng triệt để đất đai về mặt không gian và thời gian cũng như là một biện pháp canh tác bảo vệ đất, vấn đề đặt ra là con người chúng ta sử dụng các hệ thống này như thế nào cho hợp lý để canh tác lâu bền trên đất dốc, đó là nhiệm vụ mà các nhà khoa học cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu. Phân loại NLKH trên thế giới NLKH được coi là một trong những hệ thống sử dụng đất lâu đời nhất trên trái đất, nhưng những thông tin về hệ thống này thường bị hạn chế khi mô tả hoặc đánh giá hiệu quả. Để có thể xây dựng được một hệ thống phân 7 loại có cơ sở chắc chắn được chấp nhận như là tài liệu ban đầu cho việc cải tiến và xây dựng các hệ thống NLKH mới có hiệu quả hơn, tháng 9 năm 1982 chương trình ‘‘Điều tra thống kê các hệ thống NLKH” được đưa vào hoạt động.
Kết quả thu thập được của A.I đã cho phép ICRAF có đủ dữ kiện và thông tin trong việc xây dựng và trình bày hệ thống phân loại của các hệ thống sử dụng đất trên thế giới. Đây là những căn cứ để đánh giá các hệ thống và phát hiện những thiếu sót trong nghiên cứu. Những tiêu chuẩn phân loại phổ biến thường được áp dụng dựa vào các cơ sở: Cấu trúc, chức năng, tương quan kinh tế - xã hội, trình độ quản lý và ảnh hưởng sinh thái học của hệ thống. Từ những cơ sở phân loại trên mà các nhà nghiên cứu về NLKH trên thế giới đã chia ra thành một số kiểu hệ thống chính: - Hệ thống nông – lâm: cây trồng gồm cả cây gỗ, cây bụi và các cây thân thảo (những cây nông nghiệp, công nghiệp và lâm nghiệp).
- Hệ thống lâm – súc: Cây gỗ, đồng cỏ và chăn thả gia súc dưới tán các cây gỗ. - Hệ thống nông - lâm – súc: Gồm cây nông nghiệp, cây lâm nghiệp, kết hợp với đồng cỏ chăn nuôi gia súc. Các hệ thống NLKH đặc biệt: Nuôi ong với cây rừng kết hợp với cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản ở các vùng ngập mặn. Từ những kiểu hệ thống NLKH chính này mà hình thành nên nhiều kiểu NLKH khác nhau, mỗi hộ nông dân có sản xuất đa thành phần trong diện tích canh tác được coi là mô hình NLKH hộ gia đình [50], [62], [67].
Tình hình phát triển NLKH trên thế giới hiện nay Trên thế giới hiện nay NLKH ngày càng phát triển và thực sự là phương thức canh tác mang lại hiệu quả nhiều mặt cho người dân vùng đồi núi. Các nhà khoa học trên thế giới đã tập trung nghiên cứu hệ thống canh tác ở vùng đồi núi theo hướng đa dạng hóa cây trồng, bảo vệ đất, chống xói mòn, xây dựng hệ thống canh tác lâu bền trên đất dốc trong đó chủ yếu bằng các phương thức NLKH. Hệ canh tác nương rẫy, vườn rừng NLKH mà trong đó các thành phần gồm cây lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày được đưa vào kinh doanh trong các hộ gia đình góp phần tăng thu nhập và bảo vệ đất đai [62], [67]. 8 NLKH ở Ấn Độ: Ấn Độ nổi tiếng thế giới với cuộc ‘‘cách mạng xanh” về canh tác NLKH trong đó canh tác trong các vườn gia đình, vườn rừng được áp dụng phổ biến.
Nhờ cuộc cách mạng này mà Ấn Độ từ một nước đông dân chẳng những không bị thiếu mà còn xuất khẩu lương thực. Trong các cây trồng của Ấn Độ, dừa là cây đáng chú ý, người ta gọi nó là cây của Chúa trời (Tree of heaven) hoặc cây bách dụng (Tree of hundred uses). Hồ tiêu, Cà phê, Ca cao, Cao su cũng là các loài cây được chú ý, nó được trồng kết hợp trong các hộ gia đình. Các mô hình thường gặp là: - Dừa – Sắn – cà phê – Hồ tiêu – đai bảo vệ - Dừa – Khoai sọ - đai bảo vệ - Dừa – ca cao - Dừa – chuối – đai bảo vệ [64].