MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước. Cây lúa gắn liền với quá trình phát triển của dân tộc. Cây lúa ngày càng khẳng định được vị thế của mình trong sự phát triển của đất nước và việc sản xuất lúa gạo cho đến nay vẫn là nền kinh tế chủ yếu.
Theo ước tính chính thức mới nhất, sản lượng lúa của Việt Nam năm 2016 đạt 43,6 triệu tấn, tương đương 28,3 triệu tấn gạo, giảm 4% so với năm 2015. Nguyên nhân là do thiếu nước, xâm mặn nghiêm trọng và bão làm giảm năng suất trung bình. Nông dân Việt Nam hiện đang thời gian cao điểm sản xuất vụ chính đông xuân. Đến giữa tháng 3/2017, hoạt động sản xuất vụ lúa đầu tiên và lớn nhất trong 3 vụ được báo cáo là phục hồi so với hoạt động sản xuất hồi năm ngoái, đạt diện tích gieo trồng 3,04 triệu ha.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long, khu vực sản xuất chiếm một nửa sản lượng vụ đông xuân, vấn đề xâm mặn vẫn còn tác động và mưa đến trễ được cho là có thể làm giảm năng suất. Năm 2016, nguồn nước không đủ cho hệ thống thủy lợi và tình trạng xâm mặn đã làm giảm 10% năng suất trung bình vụ chính tại Đồng bằng sông Cửu Long xuống còn 6,4 tấn/ha. Kết quả thu hoạch sớm cho thấy thậm chí năng suất còn có thể giảm thấp hơn trong năm nay. Tình hình sản xuất tại Đồng bằng sông Hồng tốt hơn nhờ thời tiết tốt.
Tuy vậy, sự tụt giảm sản lượng trong vụ đầu bị trễ có thể duy trì mức giá lúa ở mức cao. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm để đưa ra dự báo về sản xuất lúa gạo Việt Nam năm 2017 do cần theo dõi thêm liệu quỹ đạo giảm sản lượng có tiếp diễn trong vụ 3, xét đến định hướng của chính phủ muốn chuyển đổi 800.000ha đất lúa sang các mục đích khác đến năm 2020. Nhìn chung, FAO dự báo Việt Nam sẽ thu hoạch 44 triệu tấn lúa, tương đương 28,6 triệu tấn gạo trong năm 2017, tăng 1% so với sản lượng năm 2016 [18]. Bên cạnh việc nâng cao sản 2 lượng sản xuất lúa, để cây lúa tồn tại được, phát triển và đứng vững trên thương trường thì vấn đề hiệu quả kinh tế (HQKT) phải được đặt lên hàng đầu.
Cây lúa đóng vai trò không thể thiếu được trong đời sống của người dân Việt Nam, và trong nền kinh tế của đất nước. Trong khi dân số tiếp tục tăng, diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm theo thời gian thì việc tăng sản lượng lương thực để đáp ứng nhu cầu của con người là một vấn đề cấp bách cần được giải quyết để đảm bảo an ninh lương thực quốc gia. Xã San Thàng là một xã thuộc thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt có nguồn nước và tính chất đất phù hợp với giống lúa đặc sản Tẻ râu. Và giống lúa này trở thành cây trồng phổ biến tại địa phương.
Bên cạnh đó, đa số người nông dân vẫn chưa dám mạnh dạn đầu tư cho sản xuất cây lúa do giá cả bấp bênh, thị trường đầu ra không ổn định, chi phí trồng lúa cao, chủ yếu là ruộng bậc thang canh tác còn gặp rất nhiều khó khăn không áp dụng được các tiến bộ máy móc cho canh tác. Chủ yếu dựa vào sức người và sức kéo của trâu. Vì vậy tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất giống lúa Tẻ râu tại địa bàn xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu” với mong muốn sẽ là cơ sở để góp phần đánh giá đúng thực trạng, HQKT và thấy rõ được các tồn tại trong sản xuất lúa Tẻ râu tại địa phương để từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất giống lúa Tẻ râu hợp lý mang lại HQKT cao hơn. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.
Mục tiêu chung Phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả kinh tế của lúa Tẻ râu ở các hộ nông dân trong xã San Thàng. Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất lúa Tẻ râu, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân, đồng thời thúc đẩy kinh tế nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu. Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất lúa. 3 - Đánh giá thực trạng sản xuất và hiệu quả kinh tế sản xuất của các hộ nông dân trên địa bàn xã San Thàng, thành phố Lai Châu, Lai Châu.
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế sản xuất lúa của các hộ nông dân. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất lúa Tẻ râu của các hộ nông dân trên địa bàn xã. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức đã học với thực tiễn trong quá trình đi thực tập tại UBND xã San Thàng.
- Nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập, xử lý thông tin kỹ năng nghề nghiệp - Giúp sinh viên tiếp xúc với thực tế, nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và trang bị kiến thức thực tiễn phục vụ cho quá trình công tác của sinh viên sau này. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài giúp cho UBND xã San Thàng, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu thấy rõ hơn được những thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển giống lúa Tẻ râu. Nhằm phát triển, mở rộng diện tích canh tác lúa, có những giải pháp thiết thực cho việc nâng cao HQKT trong việc sản xuất lúa. Những đóng góp mới của đề tài Đánh giá một cách tương đối về HQKT sản xuất giống lúa Tẻ râu.
Đánh giá được sự ảnh hưởng của các nhân tố: trình độ học vấn của chủ hộ, lượng phân bón, cách chăm sóc, khoa học kỹ thuật tới HQKT sản xuất giống lúa Tẻ râu. 4 Phần 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 2. Cơ sở lý luận của đề tài 2. Một số khái niệm và quan điểm về hiệu quả kinh tế 2.
Các quan điểm về hiệu quả kinh tế Với bất cứ ngành sản xuất vật chất nào, sản phẩm hàng hoá dịch vụ được tạo ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào với trình độ công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định. Tuy vậy khi bắt tay vào thực tế sản xuất, con người có nhiều cách phối hợp các yếu tố đầu vào với những công nghệ sản xuất khác nhau. Nền kinh tế chịu sự chi phối bởi quy luật nguồn lực khan hiếm, trong khi đó nhu cầu của xã hội về hàng hoá dịch vụ ngày càng tăng và đa dạng. Do vậy đòi hỏi xã hội phải lựa chọn từng cơ sở sản xuất, kinh doanh sao cho với một lượng nguồn lực nhất định để tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ cao nhất.
Đây là mục tiêu của xã hội và của mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh HQKT được bắt nguồn từ sự thoả mãn ngày càng tăng các nhu cầu vật chất và tinh thần của tất cả các thành viên trong xã hội cũng như khả năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và sự giới hạn của nguồn lực. Quá tŕnh tái sản xuất vật chất, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ sản xuất ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào theo công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định. [5] Các nhà kinh tế học đã chứng minh rằng nền kinh tế chịu sự chi phối bởi quy luật khan hiếm nguồn lực, trong điều kiện nhu cầu của toàn xã hội về hàng hoá và dịch vụ ngày càng tăng lên. Vì vậy bắt buộc xã hội phải lựa chọn từng cơ sở sản xuất, kinh doanh sao cho sử dụng một nguồn lực nhất định để tạo ra được khối lượng hàng hoá và dịch vụ tối đa nhất.
Đó là một trong những mục tiêu quan trọng của xã hội và từng cơ sở sản xuất, kinh doanh. Nói cách khác trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận cho mình các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở một mức độ sản xuất nhất định phải tính toán làm sao 6 để có chi phí vật chất và chi phí lao động trên một đơn vị sản phẩm là thấp nhất. Có như vậy thì lợi nhuận của nhà sản xuất cũng như lợi ích của người lao động và toàn xã hội 5 mới được nâng lên, nguồn lực được tiết kiệm. HQKT là sử dụng hợp lí và tiết kiệm nguồn lực.
HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh tế. Vì vậy nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế là nâng cao HQKT. HQKT là thước đo, một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức sản xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như toàn bộ nền kinh tế. Có thể nói HQKT là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng HQKT và phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là đặc lượng của mọi nền sản xuất xã hội.
[6] Theo quy luật mối liên hệ phổ biến và sự vận động phát triển thì mọi HQKT của các thành viên trong xã hội đều có mối quan hệ với nhau và có tác động đến HQKT của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Song HQKT không đơn thuần là một phạm trù kinh tế chỉ đề cập đến kinh tế tài chính mà nó còn gắn liền với ý nghĩa xã hội. Tóm lại HQKT là một phạm trù kinh tế vốn có trong mọi hình thái kinh tế xã hội, nó phản ánh mặt chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh của con người. HQKT là trong quá trình sản xuất kinh doanh phải biết tiết kiệm và sử dụng tối đa tiềm năng của nguồn lực, tiết kiệm chi phí, đồng thời phải thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng số lượng và chất lượng sản phẩm, hàng hoá dịch vụ cho xã hội.
Tuy vậy kết quả sản xuất kinh doanh cuối cùng cái cần tìm là lợi nhuận. Nhưng để đạt được mục đích tối đa hoá lợi nhuận và không ngừng phát triển tồn tại lâu dài thì cần quan tâm đến vấn đề HQKT, phải tìm mọi biện pháp nâng cao HQKT.