phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè của hộ. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Thực trạng hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân trên địa bàn huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.
Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ KINH TẾ TRONG SẢN XUẤT CHÈ CỦA HỘ 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế sản xuất chè của hộ nông dân 1. Kinh tế hộ nông dân sản xuất chè 1.
Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân Hộ nông dân là hộ gia đình được xem như một đơn vị kinh tế có đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp. Các thành viên trong hộ đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn trong hộ gia đình. Kinh tế hộ nông dân là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loạt hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình (không phải mục đích chính là sản xuất hàng hoá để bán). Tuy nhiên cũng cần có sự chú ý ở đây là các hộ gia đình cũng có thể sản xuất để trao đổi nhưng ở mức độ hạn chế.
Đặc điểm kinh tế hộ nông dân và hộ nông dân sản xuất chè Có thể thấy các đặc điểm cơ bản của kinh tế hộ nông dân là: - Hoạt động của kinh tế hộ nông dân chủ yếu dựa vào lao động gia đình hay lao động có sẵn mà không cần phải thuê ngoài. Các thành viên tham gia hoạt động kinh tế có quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế và huyết thống. - Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng nhất không thể thiếu của sản xuất kinh tế hộ. - Kinh tế hộ nông dân có cấu trú đa dạng, phức tạp, trong một hộ có nhiều loại lao động, vì vậy chủ hộ vừa có khả năng trực tiếp điều hành, quản lý tất cả các khâu trong sản xuất, và nó có tác động trực tiếp lên lao động trong hộ nên có tính tự giác để nâng cao hiệu quả và năng suất lao động.
Hộ nông dân sản xuất chè ở Thái Nguyên ngoài mang những đặc điểm chung của hộ nông dân nêu trên còn mang một số đặc điểm: Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún (bình quân khoảng 0,2 ha/hộ). - Tiềm lực, nguồn lực (như vốn, lao động…) để sản xuất yếu nên các hộ nông dân sản xuất chè không dự trữ được các vật tư, yếu tố đầu vào cho sản xuất chè. Do đó, khi có biến động tăng giá đầu vào các hộ chịu sự tác động lớn. - Trình độ dân trí thấp, vì thế cho dù có đủ nguồn lực để đầu tư cho sản xuất chè thì hộ nông dân cũng không đủ kiến thức để tính đoán được mức dự trữ tối ưu.
- Hộ nông dân sản xuất chè ở vùng cao của Thái Nguyên có địa hình đồi núi phức tạp, sản xuất của các hộ chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện tự nhiên, nhất là vào mùa mưa. - Điều kiện sản xuất của hộ nông dân vùng cao còn nghèo nàn, giao thông đi lại khó khăn, khả năng tiếp cận thị trường kém, nguồn thông tin bị hạn chế dấn đến kinh tế chậm phát triển. Để hộ nông dân trồng chè ở Thái Nguyên phát triển được thì ngoài sự cố gắng của bản than người dân, họ cần có sự quan tâm, hỗ trợ của nhà nước, của các ban ngành, cộng đồng để có những định hướng và các giải pháp cho từng vùng cụ thể. Các nguồn lực của hộ nông dân a) Đất đai Đất đai của hộ nông dân bao gồm: đất được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất thuê (theo vụ hay lâu dài), đất khoán, thầu bên ngoài.
Việc sử dụng đất đai của hộ nông dân phụ thuộc vào độ phì, quy mô diện tích và vị trí thửa ruộng. Mặt khác, việc sử dụng đất đai của hộ nông dân còn phụ thuộc vào chính sách đất đai của Nhà nước, địa phương. Đặc trưng nổi bật của hộ nông dân nước ta hiện nay là quy mô diện tích đất canh tác rất nhỏ bé, biểu hiện rõ nét một nền kinh tế tiểu nông. Quy mô đất đai của một hộ nông dân ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng rất nhỏ và manh mún, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và một số tỉnh miền núi và Tây Nguyên có diện tích lớn hơn nhưng so với các nước trong khu vực vẫn thuộc loại Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nhỏ bé (Nguyễn Văn Huân, 1995).
Những vấn đề này gây trở ngại cho quá trình cơ giới hoá sản xuất, khó quản lý sản xuất và ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất. b) Lao động Hộ nông dân tự tổ chức lao động, sử dụng lao động gia đình là chủ yếu. Quy mô hộ từ 4 - 6 khẩu, 2 - 3 lao động. Như vậy một lao động nông nghiệp phải nuôi trên hai người, do vậy gặp khó khan vì năng suất lao động nông nghiệp thấp.
Lao động nông nghiệp có trình độ thấp. Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo chiếm một tỷ lệ thấp. Lao động nông thôn chủ yếu học nghề thông qua việc hướng dẫn của thế hệ trước hoặc tự truyền cho nhau nên lao động theo truyền thống và thói quen là chính. Lao động nông thôn mang tính thời vụ rõ rệt, đặc biệt là các vùng nông thôn thuần nông.
Do vậy, việc sử dụng lao động trong nông thôn kém hiệu quả, hiện tượng thiếu việc làm là phổ biến. Lao động nông thôn có khả năng tiếp cận và tham gia thị trường kém, thiếu khả năng nắm bắt và xử lý thông tin thị trường, khả năng hạch toán hạn chế. Do đó, khả năng giao lưu và phát triển sản xuất hàng hoá hạn chế. c) Vốn Khả năng tích tụ, tập trung vốn của nông dân phần lớn là thấp; vốn cho nông nghiệp chu chuyển chậm; dễ gặp rủi ro trong đầu tư vào nông nghiệp; Hầu hết các hộ nông dân thiếu vốn.
d) Kinh nghiệm cho lao động sản xuất Chủ yếu là chủ hộ. Phụ thuộc vào trình độ văn hoá, chuyên môn kỹ thuật, quản lý kinh tế và còn phụ thuộc vào cả giới tính hoặc tuổi tác, dân tộc … 1. Một số lý luận về hiệu quả kinh tế 1. Quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế.
Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng. Yêu cầu của công tác quản lý kinh tế đòi hỏi phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế làm xuất hiện phạm trù hiệu quả kinh tế. Xuất phát từ các góc độ xem xét, các nhà kinh tế đã đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế.
Quan điểm thứ nhất: hiệu quả kinh tế là mức độ hữu ích của sản phẩm sản xuất ra tức là giá trị sử dụng của nó, hoặc là doanh thu và nhất là lợi nhuận. Quan điểm này lẫn lộn giữa hiệu quả với kết quả sản xuất kinh doanh. Quan điểm thứ hai: Hiệu quả kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế, được phản ánh qua nhịp độ tăng của các chỉ tiêu kinh tế. Cách hiểu này là phiến diện, chỉ đứng trên giác độ biến động theo thời gian.
Quan điểm thứ ba: hiệu quả kinh tế là các chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí. Định nghĩa như vậy chỉ đề cập đến cách xác lập chỉ tiêu. Quan điểm thứ tư: hiệu quả kinh tế là mức độ tiết kiệm chi phí và mức tăng kết quả kinh tế. Đây là biểu hiện của bản chất chứ không phải là khái niệm về hiệu quả.
Quan điểm thứ năm: hiệu quả kinh tế là mức tăng của kết quả sản xuất kinh doanh trên mỗi lao động hay mức doanh lợi của vốn sản xuất kinh doanh. Quan điểm này muốn quy hiệu quả về một chỉ tiêu tổng hợp cụ thể nào đó. Như vậy, có rất nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế. Từ những quan điểm trên ta thấy cần một khái niệm bao quát về hiệu quả: hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, biểu hiện sự phát triển kinh tế theo chiều sâu.
Nó phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ tiết kiệm chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện các mục tiêu kinh doanh. Khi nghiên cứu về hiệu quả kinh tế đã có rất nhiều các quan điểm khác nhau về vấn đề này chúng ta có thể phân thành hai nhóm quan điểm là: - Quan điểm truyền thống về hiệu quả kinh tế Quan điểm truyền thống cho rằng, nói đến hiệu quả kinh tế là nói đến phần còn lại của kết quả sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ chi phí. Nó được đo bằng các chi phí và lời lãi. Nhiều tác giả cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ Số hoá bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại là chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm.
Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là giá thành sản phẩm hay mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [9]. Các quan điểm truyền thống trên chưa thật toàn diện khi xem xét đến hiệu quả kinh tế.