ĐẶT VẤN ĐỀ Trong quá trình phát triển nền kinh tế xã hội, nhiều khu công nghiệp, nhà máy, cụm công nghiệp được xây dựng và đưa vào hoạt động. Cùng với sự phát triển của sản xuất công nghiệp, xử lý chất thải và tái chế chất thải rắn đang trở thành một trong những ngành công nghiệp phát triển khá mạnh và góp phần bảo vệ môi trường. Tuy nhiên bên cạnh những đóng góp tích cực, tình trạng ô nhiễm môi trường từ việc xử lý và tái chế chất thải không được xử lý kịp thời và thải trực tiếp ra ngoài môi trường dẫn đến những tác động xấu đến con người và hệ sinh thái. Công ty TNHH sản xuất dịch vụ thương mại Môi Trường Xanh tại KCN Nam Sách tỉnh Hải Dương xử lý và tái chế nhiều loại hình chất thải rắn, chính vì thế tính chất và thành phần nước thải phát sinh từ hoạt động tái chế của công ty cũng rất phức tạp, nếu không được xử lý sẽ gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến con người và môi trường.
Công ty sử dụng hệ thống xử lý nước thải không liên tục (xử lý theo mẻ), tuy công suất hoạt động của hệ thống xử lý nước thải nhỏ nhưng hệ thống xử lý của công ty đã mang lại hiệu quả nhất định trong quá trình xử lý. Nhằm tìm hiểu sâu về công nghệ xử lý nước thải của hệ thống xử lý chất thải và tái chế chất thải rắn bằng phương pháp xử lý theo mẻ của công ty, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống, tôi đã tiến hành nghiên cứu và thực hiện đề tài: “Đánh giá hiệu quả hoạt động của hệ thống xử lý nƣớc thải tại công ty TNHH sản xuất dịch vụ thƣơng mại Môi Trƣờng Xanh, Khu công nghiệp Nam Sách, Hải Dƣơng” 1 CHƢƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tái chế chất thải rắn trên thế giới và Việt Nam 1.1 Trên thế giới Hiện nay, bảo vệ môi trường, trong đó có việc xử lý chất thải rắn là vấn đề mang tính toàn cầu. Chính phủ các nước đang cố gắng tìm biện pháp giải quyết vấn đề này một cách hiệu quả nhất. Ô nhiễm môi trường do rác thải gây ra là vấn đề rất đáng quan tâm bởi nó không chỉ gây mất mỹ quan đô thị mà còn ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng.
Do đó việc nghiên cứu các giải pháp quản lý, xử lý, tái chế là việc rất cần thiết. Ở nhiều nước, những biện pháp giảm lượng chất thải rắn tạo thành cũng như khuyến khích việc sử dụng lại vật liệu được áp dụng [Hồng Nhung – Thu Giang, 2016]. Ở nhiều quốc gia châu Âu và một số quốc gia tiên tiến ở Châu Á đã thực hiện quản lý chất thải thông qua phân loại tại nguồn và xử lý tốt, đạt hiệu quả cao về kinh tế và môi truờng. Tại các quốc gia này như Ðan Mạch, Anh, Hà Lan, Ðức (châu Âu) hay các quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo (châu Á).
việc quản lý chất thải rắn được thực hiện rất chặt chẽ, công tác phân loại và thu gom chất thải rắn đã thành nền nếp và người dân chấp hành rất nghiêm quy định này. Ðối với chất thải công nghiệp, các công ty đều phải tuân thủ quy định phân loại riêng từng loại chất thải trong sản xuất và chất thải sinh hoạt của nhà máy để thu gom và xử lý riêng biệt. Với các sản phẩm sau khi sử dụng sinh ra nhiều rác, chính quyền yêu cầu các công ty ngay từ giai đoạn thiết kế xây dựng phải dự kiến nơi chứa các sản phẩm thải loại của mình hoặc trong giá bán sản phẩm đã phải tính đến chi phí thu gom và xử lý lượng rác thải [Văn Hữu Tập, 2015]. Ở Mỹ, một số bang có luật bắt buộc người dân phải thu nhặt tại nhà những vật có thể tái chế tại nơi đổ sát bên lề đường, một số bang yêu cầu phải 2 phân loại các chất thải từ các hộ thành các loại rác khác nhau trước khi thu gom.
Ở Pháp quy định phải dùng các loại vật liệu, nguyên tố hay nguồn năng lượng nhất định để tạo điều kiện dễ dàng cho việc khôi phục các vật liệu thành phần. Theo đó đã có các quyết định cấm các cách xử lý hỗn hợp, các tổ hợp thành phần cũng như các phương pháp sản xuất nhất định. Chính phủ có thể yêu cầu các nhà chế tạo và nhà nhập khẩu sử dụng các loại vật liệu tận dụng để bảo vệ môi trường hoặc giảm bớt sự thiếu hụt một vật liệu nào đó. Ở Singapo, đây là nước đô thị hóa 100% và là đô thị sạch nhất trên thế giới.
Để được như vậy, Singapo đã đầu tư cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải và đồng thời xây dựng một hệ thống pháp luật nghiêm khắc làm tiền đề cho quá trình xử lý rác thải tốt hơn. Rác thải Singapo được thu gom và phân loại bằng túi nilon. Các chất thải có thể tái chế được đưa vào nhà máy tái chế lại còn các loại chất thải khác được đưa về nhà máy khác để thiêu hủy. Ở Singapo có hai thành phần tham gia chính cho thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt từ các khu dân cư và các công ty, hơn 300 công ty tư nhân chuyên thu gom rác thải công nghiệp và thương mại.
Tất cả các công ty này đều được cấp phép hoạt động và chịu sự giám sát, kiểm tra trực tiếp của Sở khoa học và công nghệ môi trường. Ngoài ra, các hộ dân và các công ty ở Singapo được khuyến khích tự thu gom và vận chuyển rác thải cho các hộ dân thu gom rác trực tiếp tại nhà phải trả phí 17 đôla Sinhgapo/tháng, thu gom gián tiếp tại các khu dân cư chỉ phải trả 7 đôla Singapo/tháng [Hồng Nhung – Thu Giang, 2016]. Nhìn chung, chiến lược xử lý chất thải rắn (CTR) của các nước tiên tiến là ưu tiên phát triển theo hướng tái chế, tái sử dụng tiết kiệm tài nguyên, hạn chế chôn lấp chất thải. Phát triển công nghiệp tái chế, tái sử dụng chất thải và việc xã hội hóa vấn đề này là xu thế tất yếu của các quốc gia.2 Ở Việt Nam Hoạt động tái chế đã có từ lâu ở Việt Nam.
Các loại chất thải có thể tái chế như kim loại, đồ nhựa và giấy được các hộ gia đình bán cho những người thu mua đồng nát, sau đó chuyển về các làng nghề. Công nghệ tái chế chất thải tại các làng nghề hầu hết là cũ và lạc hậu, cơ sở hạ tầng yếu kém, quy mô sản xuất nhỏ dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng ở một số nơi. Một số làng nghề tái chế hiện nay đang gặp nhiều vấn đề môi trường bức xúc như Chỉ Đạo (Hưng Yên), Văn Lâm (Hưng Yên), làng nghề sản xuất giấy Dương Ổ (Bắc Ninh)… Một số công nghệ đã được nghiên cứu áp dụng như trong đó chủ yếu tái chế chất thải hữu cơ thành phân vi sinh (SERAPHIN, ASC) hay viên nhiên liệu (Thủy lực máy - Hà Nam) song kết quả áp dụng trên thực tế chưa thật khả quan. Nhìn chung, hoạt động tái chế ở Việt Nam không được quản lý một cách có hệ thống, có định hướng mà chủ yếu do các cơ sở tư nhân thực hiện một cách tự phát [PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thái, 2011].
Hiện nay một số công nghệ tái chế chất thải đang được sử dụng tại một số địa phương ở nước ta hiện nay, có thể được hình dung sơ bộ theo các thống kê tại bảng: Bảng 1.1: Thông tin về một số địa điểm tái chế phế liệu STT Tên công nghệ Số cơ sở áp dụng Số mô đun hệ thống 1 Tái chế chất thải 200 hộ sản Đông Mai – Văn Lâm – Hưng Yên chì xuất/25 lò nấu 2 Tái chế nhựa thải >400 cơ sở Triều Khúc – Thanh Trì – Hà Nội Đông Mầu – Yên Lạc – Vĩnh Phúc Tào Phú – Yên Lạc – Vĩnh Phúc Nam My – Nam Định 3 Tái chế giấy >150 hộ sản xuất Dương Ố - Phú Lâm – Bắc Ninh 4 Tái chế sắt vụn, >700 cơ sở Văn Môn – Yên Phong – Bắc Ninh 4 kim loại Đa Hội – Châu Khê – Bắc Ninh Bình Yên – Nam Trực – Nam Định Tống Xá – Yên Xá – Nam Định 5 Tái chế dung >30 cơ sở Hải Dương; Bình Dương; Đồng môi, dầu thải Nai; thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn: PGS.TS Nguyễn Thị Kim Thái, Viện Khoa học và Kỹ thuật Môi trường, trường đại học Xây dựng, 2011) Nhìn chung, tại Việt Nam công nghệ tái chế chất thải rắn chưa cao, thường có quy mô nhỏ. Cần tiến hành nghiên cứu chuyên biệt hóa các công nghệ tái chế chất thải đặc thù, góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển lĩnh vực tái chế chất thải rắn trong tương lai gần.2 Đặc trƣng của nƣớc thải tái chế và ảnh hƣởng đến môi trƣờng 1. Đặc trƣng của nƣớc thải tái chế Với các chủng loại tái chế tương đối phong phú nên thành phần các chất thải trong nước thải tái chế chất thải rắn cũng rất đa dạng có thành phần và tính chất khác nhau tùy thuộc vào loại chất thải rắn đầu vào. Lượng nước thải phụ thuộc vào lượng nước sử dụng trong sản xuất, nước thải chủ yếu từ công đoạn rửa sơ bộ trước khi đem chất thải đi xử lý và tái chế.
Đối với việc xử lý và tái chế ắc quy chì và ắc quy kiềm: trong quá trình xử lý diễn ra, nước thải ra từ quá trình rửa các bộ phận trong ắc quy, nước thải ra từ quá trình này có chứa PbSO4, PbO, PbO2 và có chứa KOH. Đối với việc xử lý và tái chế bản mạch điện tử: nước thải được thải ra từ việc rửa các thiết bị bản mạch như chân cắm hay giắc cắm để loại bỏ hết các loại bụi bẩn bám vào thiết bị, do đó nước từ quy trình này thải ra ngoài có chứa thành phần bụi bẩn. Thành phần nước thải của một số ngành tái chế được trình bày trong bảng 1.2 Thành phần nƣớc thải một số ngành tái chế STT Ngành sản tái chế Thành phần gây ô nhiễm 1 Tái chế nhôm Kim loại nặng 2 Tái chế dung môi Toluene, acetone, methyl acetate 3 Tái chế ắc quy Chì, Kiềm 4 Tái chế dầu thải Dầu mỡ 5 Tái chế sắt và thép phế liệu Sắt 6 Tái chế giấy Hợp chất Clo, hợp chất Sulphua, dầu khoáng (Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2017) Ngoài ra, nước thải còn được thải ra từ các hoạt động vệ sinh nhà xưởng, kho bãi hay được thải ra từ hoạt động sinh hoạt của công nhân viên trong quá trình hoạt động tái chế.