CHƯƠNG I : 3 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ DỰ ÁN I. TỔNG QUAN VỀ TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG 1. Khái niệm về Năng lượng và Tiết kiệm năng lượng Năng lượng là dạng vật chất có khả năng sinh công, bao gồm nguồn năng lượng sơ cấp như than, dầu, khí đốt và nguồn năng lượng thứ cấp là nhiệt năng và điện năng được sinh ra thông qua quá trình chuyển hoá năng lượng Trong chu trình chuyển hoá lý tưởng thì năng lượng được bảo tồn, nghĩa là không có tổn thất trong tất cả các khâu chuyển hoá năng lượng. Tuy nhiên, trong thực tế bao giờ cũng xảy ra các tổn thất trong từng khâu chuyển hoá.
Các biện pháp làm giảm tổn thất trong các quá trình chuyển hoá được gọi là tiết kiệm năng lượng. Tiết kiệm năng lượng là đảm bảo thoả mãn nhu cầu năng lượng của các quá trình sản xuất, dịch vụ và sinh hoạt với mức tiêu thụ năng lượng ít nhất và hiệu quả kinh tế cao nhất. Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả là nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia, đồng thời giảm chi phí năng lượng, tăng khả năng cạnh tranh, cải thiện chất lượng hàng hoá và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Tiềm năng tiết kiệm năng lượng của một doanh nghiệp không chỉ được xác định bởi lượng tiêu thụ năng lượng mà cả hiệu quả kinh tế đạt được nhờ việc cải tiến bộ máy quản lý, thay thế hoặc hiện đại hoá máy móc thiết bị.
Thông thường các biện pháp tiết kiệm năng lượng được thực hiện theo 3 mức đầu tư: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. 4 - Đầu tư ngắn hạn là thực hiện các biện pháp chủ yếu như cải tiến chế độ quản lý năng lượng, tổ chức sản xuất hợp lý, sửa chữa nhỏ, cải thiện quy trình vận hành, bảo dưỡng, chuyển thiết bị phụ trợ sang chế độ kinh tế, chuyển máy biến áp non tải sang chế độ dự phòng nguội, hạn chế sử dụng điện năng để sưởi nóng, chèn kín cửa kính, kẽ hở cửa ra vào, hoàn thiện bảo ôn đường ống cung cấp nhiệt, rửa và làm sạch thiết bị thu nhiệt, cách nhiệt tốt tủ lạnh. Các biện pháp về tiết kiệm năng lượng với chi phí nhỏ chỉ chiếm dưới 5% tổng tiềm năng tiết kiệm năng lượng. Các biện pháp này được thực hiện trong thời gian khoảng 2 - 3 tháng.
- Đầu tư trung hạn bao gồm cải tạo, nâng cấp hoặc đổi mới từng phần các thiết bị đang làm việc nhằm nâng cao hiệu quả năng lượng, như thay đổi bảo ôn, thu hồi nhiệt, thay thế các bộ phận đã cũ, thay thế các động cơ điện non tải và áp dụng bộ truyền động điều chỉnh kiểu tần số ở các công trình có phụ tải biến động. Các biện pháp chi phí trung bình cho công tác tiết kiệm năng lượng thường chiếm tới 15 - 20% tổng tiềm năng tiết kiệm năng lượng, thực hiện trong khoảng từ 1-2 năm và được hoàn vốn trong 3 năm. Để thực thi các biện pháp chi phí trung bình cần có kế hoạch chi tiết và lập các bản vẽ thi công. - Đầu tư dài hạn bao gồm nâng cấp thiết bị hoặc thay đổi công nghệ, thiết bị mới.
Biện pháp này thường cần vốn đầu tư lớn, thời gian thu hồi vốn dài nên các doanh nghiệp cần phải xem xét kỹ tính khả thi về kinh tế, các yếu tố về môi trường và an toàn sức khỏe nghề nghiệp. Các biện pháp chi phí lớn về tiết kiệm năng lượng về mặt lý thuyết mang lại tới 75% tiềm năng tiết kiệm năng lượng. Tuy nhiên chi phí cho các biện pháp đó là tương đối lớn và trong nhiều trường hợp, vượt quá chi phí xây dựng nhà máy, phân xưởng mới. Sở dĩ có tình trạng đó là vì trong ngành công nghiệp các biện pháp chi phí lớn về tiết kiệm năng lượng liên quan tới việc thay đổi công nghệ của 5 sản xuất chính, đòi hỏi thay thế các thiết bị đắt tiền và chỉ có thể thực hiện khi cải tạo đầu tư mới xí nghiệp.
Các giải pháp Tiết kiệm năng lượng Hiện nay, một số doanh nghiệp đã và đang thực hiện chương trình tiết kiệm và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng bằng các biện pháp chủ yếu sau: - Cải tiến, hợp lý hóa quá trình đốt nhiên liệu; gia nhiệt, làm lạnh và chuyển hóa nhiệt năng - Giảm tổn thất nhiệt - Giảm tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải, phân phối và tiêu thụ điện năng - Thu hồi năng lượng của chu trình thải để sử dụng lại như thu hồi nhiệt từ khói thải để sấy sản phẩm hoặc phát điện - Giảm tiêu thụ năng lượng bằng cách sử dụng thiết bị hoặc công nghệ có hiệu suất cao như sử dụng đèn, động cơ, lò hơi. có hiệu suất cao, hoặc dùng công nghệ khô thay cho công nghệ ướt trong sản xuất xi măng. - Giảm tiêu thụ năng lượng nhờ hợp lý hóa quá trình sản xuất do đó nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng - Phát triển, sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo (mặt trời, gió, thủy triều, địa nhiệt.) để tiết kiệm các nguồn nhięn liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt. Các giải pháp Tiết kiệm năng lượng được áp dụng tại các doanh nghiệp đã và đang mang lại nhiều lợi ích như giảm chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm và nâng cao được tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Bên cạnh đó, hoạt động này cũng sẽ giúp giảm được sự tiêu tốn tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là 6 giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường II. TÌNH HÌNH ÁP DỤNG TIẾT KIỆM NĂNG LƯỢNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM. Tình hình áp dụng Tiết kiệm năng lượng trên thế giới Những cuộc khủng hoảng năng lượng trong các thập kỷ qua đã chứng minh Năng lượng là một vấn đề quan trọng, tác động trực tiếp đến sự phát triển kinh tế xã hội của tất cả các nước trên thế giới. Theo “Triển vọng năng lượng quốc tế 2002” (IEO 2002), tiêu thụ năng lượng của thế giới dự báo sẽ tăng 60% trong thời gian 21 năm, kể từ 1999 đến 2020 (thời kỳ dự báo).
Đặc biệt, nhu cầu năng lượng của các nước đang phát triển ở châu Á và Trung Nam Mỹ, dự báo có thể sẽ tăng gấp hơn bốn lần trong thời gian từ 1999 tới 2020, chiếm khoảng một nửa tổng dự báo gia tăng tiêu thụ năng lượng của thế giới và khoảng 83% tổng gia tăng năng lượng của riêng thế giới đang phát triển. Giá dầu mỏ đang ngày càng tăng cao trong khi nhu cầu sử dụng nhiên liệu này của các quốc gia cũng không ngừng tăng lên, điều này đã gây sức ép buộc nhiều nước phải thực thi kế hoạch phát triển các nguồn năng lượng thay thế nhằm giảm sự phụ thuộc dầu mỏ, khí đốt; đồng thời thi hành các biện pháp nhằm tiết kiệm năng lượng. Một trong số các nước tiết kiệm năng lượng nhất thế giới phải kể đến là Nhật Bản. Là nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới tiêu thụ nhiều năng lượng, nhưng Nhật Bản hoàn toàn không có dầu mỏ và khí đốt.
96% năng lượng sử dụng trong nền kinh tế và phục vụ sinh hoạt hằng ngày ở Nhật Bản phải nhập khẩu. Việc phụ thuộc lớn nguồn năng lượng bên ngoài khiến cho nước này nhận thức được tầm quan trọng của tiết kiệm sử dụng năng lượng có hiệu quả cao. 7 Từ năm 1973 đến nay sản xuất công nghiệp của Nhật Bản tăng gần gấp ba lần, nhưng mức năng lượng sử dụng hầu như không đổi. Ðể sản xuất khối lượng sản phẩm công nghiệp bằng Nhật Bản, Trung Quốc phải sử dụng lượng năng lượng gấp 11,5 lần.
Các nhà máy sản xuất giấy của Nhật Bản đầu tư cho những thùng kim loại có thể đốt nóng bằng giấy thải, củi và nhựa phế thải. Trong vòng hai năm, có tới một nửa sản lượng điện sử dụng trong các nhà máy giấy được sản xuất từ rác thải. Tháng 3 năm 2005, chính phủ Nhật Bản đã phát động một chiến dịch trong toàn quốc nhằm thực hiện mục tiêu của Nghị định thư Kyoto về cắt giảm 6% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính mức của năm 1990 vào năm 2012. Trong lĩnh vực giao thông và sinh hoạt đời sống, nhu cầu sử dụng năng lượng cao hơn nhiều so với lĩnh vực công nghiệp.
Ðể tiết kiệm và sử dụng năng lượng có hiệu quả, chính phủ Nhật Bản chủ trương tăng thuế nhiên liệu lên 1,25 USD một lít xăng, mức cao nhất trong một thập niên; đồng thời giảm thuế đối với ô tô cỡ nhỏ và loại xe mới có các bộ phận không đồng bộ nhưng tiết kiệm nhiên liệu, trên cơ sở kết hợp giữa một động cơ chạy xăng và một động cơ chạy điện. Việc bán loại xe này ở Nhật Bản đang tăng mạnh. Nhật Bản cũng trợ cấp khoảng 1,3 tỷ USD để lắp đặt hệ thống năng lượng mặt trời cho 160 nghìn gia đình. Hiện nay việc cung cấp năng lượng mặt trời với chi phí cao hơn từ hai đến ba lần việc cung cấp điện năng cho các hộ gia đình.
Nhưng các chủ sở hữu nhà cho rằng cùng với thời gian, nguồn năng lượng này sẽ trang trải những phí tổn về thiết bị sử dụng năng lượng mặt trời. Chính phủ Nhật Bản muốn miễn thuế cho cố gắng phát triển nguồn năng lượng này; vạch kế hoạch tăng sản lượng năng lượng mặt trời lên 15 lần trong thập kỷ này. Với chủ trương tiết kiệm dầu mỏ phải bắt đầu từ mỗi gia đình, Nhật Bản chủ trương cắt giảm việc sử dụng năng lượng đối với bốn loại đồ dùng gia đình thông dụng. Chủ trương nói trên 8 được các hãng sản xuất đồ dùng điện của Nhật Bản hưởng ứng, với việc sản xuất và bán ra các sản phẩm mới tiết kiệm năng lượng.
Ngoài Nhật Bản, các nước có nguồn năng lượng nội địa ít cũng thi hành chính sách tiết kiệm năng lượng. Tại Singapore, nơi máy điều hòa không khí chiếm tới 60% chi phí năng lượng của mỗi gia đình, một đạo luật mới được ban hành khuyến khích việc tiết kiệm năng lượng thông qua việc sử dụng kính cửa sổ phủ phản quang và kết nối hệ thống hạ nhiệt của ngôi nhà với hệ thống làm hạ nhiệt của hàng xóm, nơi nước được làm lạnh qua đêm. Ở Hồng Công, ngày càng nhiều tòa nhà được lắp đặt hệ thống quạt "thông minh", trong đó máy tính giảm thiểu số lần dừng không cần thiết.