Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Làng nghề truyền thống giữ vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Việt Nam. Tại tỉnh Thái Bình, thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 05/06/2001 của Tỉnh ủy khóa XVI về phát triển nghề và làng nghề, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ và tiêu chí công nhận danh hiệu "Làng nghề, xã nghề". Tính đến giai đoạn nghiên cứu, toàn tỉnh Thái Bình đã đưa 20 cụm công nghiệp và 22 điểm công nghiệp làng nghề vào hoạt động, cấp bằng công nhận cho 145 làng nghề (dẫn đầu là huyện Hưng Hà với 52 làng/xã nghề, huyện Kiến Xương có 40 làng, huyện Quỳnh Phụ có 35 làng).

Giá trị sản xuất của các làng nghề tại Thái Bình có sự gia tăng liên tục qua các mốc thời gian:

  • Năm 2000: Đạt 660 tỷ đồng.
  • Năm 2005: Đạt 1.408 tỷ đồng.
  • Năm 2010: Đạt 2.520 tỷ đồng.
  • Năm 2014: Đạt 7.127 tỷ đồng (chiếm 20,8% tổng giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp tỉnh và tạo việc làm cho hơn 150.000 lao động nông thôn).

Tại xã Thái Phương (huyện Hưng Hà), nghề dệt đóng góp 45 - 50% trong tổng giá trị sản xuất các ngành kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt 13 - 14%/năm. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của quy mô sản xuất dệt may đã dẫn tới áp lực lớn về mặt môi trường. Các cơ sở dệt nhuộm chủ yếu nằm xen kẽ trong khu dân cư, hạ tầng kỹ thuật chật hẹp, thiếu hệ thống xử lý nước thải tập trung. Nước thải chứa hóa chất nấu giặt, tẩy nhuộm hầu hết chưa qua xử lý đã xả trực tiếp ra hệ thống kênh mương, ao hồ, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường sống xung quanh. Công tác quan trắc, quản lý và chế tài xử lý tại địa phương còn bộc lộ nhiều hạn chế.

Trước thực trạng đó, đề tài "Ô nhiễm chất thải do chất tẩy nhuộm và đề xuất giải pháp quản lý môi trường làng nghề dệt tại làng Mẹo, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình để hướng tới phát triển bền vững" được thực hiện nhằm giải quyết bài toán mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế làng nghề và bảo vệ môi trường.

Mục tiêu nghiên cứu:

  • Mục tiêu chung: Đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng môi trường tại làng nghề truyền thống - nghề dệt làng Mẹo (Phương La), xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Phân tích thực trạng ô nhiễm chất thải do hoạt động tẩy nhuộm và đánh giá các giải pháp quản lý môi trường làng nghề dệt tại làng Mẹo nhằm hướng tới phát triển bền vững.
    2. Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng chất lượng môi trường và thực trạng công tác quản lý môi trường tại địa bàn làng nghề.
    3. Đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý môi trường tại làng nghề dệt nhuộm Phương La.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng ô nhiễm môi trường do chất thải tẩy nhuộm và các giải pháp quản lý môi trường hướng tới phát triển bền vững làng nghề dệt nhuộm Phương La, xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn thôn Phương La (làng Mẹo), xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
  • Phạm vi sản phẩm: Tập trung nghiên cứu quy trình sản xuất và thải bỏ chất thải của dòng sản phẩm chủ lực là khăn dệt các loại (khăn mặt, khăn tắm, khăn bông xuất khẩu).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận vận dụng các khái niệm và cơ sở pháp lý quản lý môi trường làng nghề tại Việt Nam:

  • Khái niệm làng nghề, làng nghề truyền thống theo quy định tại Điều 3 và Điều 4 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn.
  • Tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề và làng nghề truyền thống theo Thông tư số 16/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (hướng dẫn thực hiện Nghị định số 66/2006/NĐ-CP).
  • Khái niệm quản lý môi trường và 9 nguyên tắc phát triển bền vững theo Hội nghị thượng đỉnh Trái đất Rio-92.
  • Hệ thống công cụ quản lý môi trường:
    • Công cụ luật pháp: Luật Bảo vệ Môi trường 2005; Nghị quyết số 41-NQ/TW năm 2004 của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam; Nghị định số 155/2016/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
    • Công cụ kinh tế: Thuế, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn (Nghị định số 174/2007/NĐ-CP) theo nguyên tắc "người gây ô nhiễm phải trả tiền", quỹ bảo lãnh tín dụng và ưu đãi thuế/vốn vay.
    • Công cụ kỹ thuật: Quan trắc môi trường, công nghệ phân hủy yếm khí biogas, chuyển đổi đốt than sang khí hóa lỏng LPG, công nghệ lọc và xử lý nước thải.
    • Công cụ phụ trợ: Hương ước, quy ước bảo vệ môi trường làng xã, giáo dục và truyền thông môi trường cộng đồng.
  • Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật viện dẫn: Tiêu chuẩn vệ sinh lao động theo Quyết định số 3733/2002/QĐ-BYT; Tiêu chuẩn chất lượng không khí TCVN 5937-1995, TCVN 5938-1995; Tiêu chuẩn tiếng ồn khu dân cư TCXD 175:1990; Tiêu chuẩn nước thải TCVN 5945-1995.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng trong lĩnh vực kinh tế và quản lý môi trường:

  • Phương pháp chọn điểm điều tra: Lựa chọn nghiên cứu điển hình tại làng Phương La (làng Mẹo), xã Thái Phương – trung tâm dệt may có lịch sử lâu đời, quy mô hộ sản xuất lớn và là điểm nóng về xả thải tẩy nhuộm tại huyện Hưng Hà.
  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa các báo cáo diễn biến chất lượng môi trường làng nghề dệt, số liệu từ các đề tài nghiên cứu cấp nhà nước (như Đề tài KC 08-09), báo cáo của Tổng cục Môi trường và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thái Bình.
  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tổng hợp số liệu thống kê từ Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, Ban thống kê Ủy ban nhân dân xã Thái Phương, tài liệu khảo sát của tổ chức JICA phối hợp với Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn.
  • Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế: Khảo sát thực địa tại các cơ sở, xưởng dệt nhuộm ở làng Mẹo; phỏng vấn người dân và chủ cơ sở sản xuất; quan sát trực tiếp hiện trường xả thải và ghi nhận hình ảnh bằng thiết bị chụp ảnh tư liệu.
  • Phương pháp xử lý thông tin, số liệu: Hệ thống hóa, phân tổ thống kê, đối chiếu và tổng hợp các nguồn dữ liệu văn bản, báo cáo kiểm tra liên ngành.
  • Phương pháp thống kê, đánh giá, dự báo tác động môi trường: Đánh giá các thông số ô nhiễm định tính và định lượng, phân tích nguyên nhân để làm căn cứ đề xuất các giải pháp kinh tế - kỹ thuật.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý môi trường làng nghề

Chương 1 hệ thống hóa khung lý thuyết tổng quan về làng nghề và thực trạng ô nhiễm môi trường làng nghề tại Việt Nam:

  • Đặc điểm làng nghề Việt Nam: Cả nước ghi nhận 4.575 làng nghề, trong đó có 1.324 làng nghề được công nhận và 3.221 làng có nghề. Phân bố tập trung chủ yếu ở miền Bắc (chiếm 79% cả nước, riêng đồng bằng sông Hồng chiếm 43% với khoảng 800 làng nghề). Theo thống kê của JICA và Bộ Nông nghiệp & PTNT, các tỉnh có mật độ làng nghề cao gồm: Hà Tây cũ (280 làng), Thái Bình (187 làng), Thanh Hóa (127 làng), Nam Định (90 làng), Hải Dương (65 làng), Bắc Ninh (59 làng).
  • Thực trạng các dạng ô nhiễm tại làng nghề nông thôn:
    • Khảo sát trên 52 làng nghề điển hình toàn quốc cho thấy: 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng, 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ.
    • Ô nhiễm đất và nước: 100% mẫu nước thải làng nghề qua khảo sát của Viện Khoa học và Công nghệ Môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) vượt quy chuẩn cho phép. Điển hình tại các làng nghề sản xuất giấy Phong Khê và Phú Lâm (Bắc Ninh), mỗi ngày thải khoảng 1.500 m³ nước thải chứa xút, thuốc tẩy, phèn, phẩm màu với BOD₅ và COD vượt tiêu chuẩn từ 4 đến 6 lần.
    • Ô nhiễm không khí: Lò đúc thép tại Châu Khê (Bắc Ninh) có hàm lượng bụi vượt tiêu chuẩn 10 - 15 lần, nồng độ CO, SO₂ vượt gần 2 lần, bụi kim loại nặng vượt 5 - 20 lần và nhiệt độ xưởng cao hơn môi trường bên ngoài từ 8 - 10°C. Bụi gỗ tại các làng mộc Bích Chu, Minh Tân, Đồng Kỵ, Chàng Sơn dao động từ 1,2 đến 24,5 mg/m³.
    • Ô nhiễm tiếng ồn: Tại các làng nghề mộc và cơ khí, tiếng ồn máy xẻ, cưa, bào vượt mức 85 - 95 dB. Tiếng ồn đo được trong khu dân cư và nhà ở dao động từ 78 - 82 dB (vượt ngưỡng quy định tại TCXD 175:1990 là 55 dB ban ngày và 40 dB ban đêm).
    • Ô nhiễm chất thải rắn: Lượng chất thải rắn phát sinh tại Việt Nam tăng bình quân 10%/năm; trong đó 46% từ đô thị, 17% từ sản xuất công nghiệp và phần còn lại từ nông thôn, làng nghề, y tế.

Bảng tổng hợp đặc trưng nước thải một số làng nghề chế biến nông sản thực phẩm (Nguồn: Đề tài KC 08-09 viện dẫn trong khóa luận):

Thông số / Chỉ tiêu TCVN 5945-1995 Bột sắn Tân Hòa Bún Phú Đô Nước mắm Hải Thanh Nấu rượu Đỗ Xá
pH 5,5 - 9,0 5,1 4,2 5,9 4,5
BOD₅ (mg/l) 50 9.590 1.850 1.200 14.500
COD (mg/l) 100 13.500 2.650 2.100 22.000
Chất rắn lơ lửng - SS (mg/l) 100 414 1.026 266 1.764
  • Thực trạng áp dụng các công cụ quản lý: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật chưa đồng bộ, thiếu quy định đặc thù cho từng loại hình làng nghề. Việc phân công trách nhiệm giữa các cơ quan quản lý nhà nước và địa phương còn chồng chéo. Các công cụ kinh tế như phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, chất thải rắn (Nghị định 174/2007/NĐ-CP) hầu như chưa thu được từ các hộ sản xuất làng nghề.

Chương 2: Thực trạng quản lý môi trường và quản lý môi trường làng nghề dệt xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình

Chương 2 đi sâu phân tích tình hình kinh tế - xã hội, đặc điểm sản xuất và hiện trạng môi trường tại địa bàn nghiên cứu:

  • Điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển: Xã Thái Phương nằm ở phía Đông Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, cách trung tâm thành phố Thái Bình 23 km, tiếp giáp các xã Kim Trung, thị trấn Hưng Hà, Thái Hưng, Hồng An, Minh Tân, Phúc Khánh. Khí hậu nhiệt đới gió mùa có nhiệt độ trung bình 23 - 24°C, tổng nhiệt độ hoạt động 8.400 - 8.500°C, số giờ nắng 1.600 - 1.800 giờ/năm, lượng mưa 1.700 - 2.200 mm, độ ẩm không khí 80 - 90%. Nghề dệt Phương La có lịch sử gần 700 năm, khởi nguồn từ nghề dệt lụa tơ tằm cổ truyền với kỹ thuật chuội lụa bằng mỡ cơm xôi. Đến cuối thập niên 1980, nghệ nhân Trần Văn Sen đưa công nghệ in hoa, tẩy nhuộm về làng. Sau đó, làng nghề chuyển đổi mạnh mẽ từ tơ tằm sang dệt các loại khăn bằng sợi bông (khăn tắm, khăn mặt, khăn thể thao, khăn quà tặng, khăn spa).
  • Quy mô sản xuất và thị trường: Trên địa bàn xã Thái Phương có gần 100 công ty, xí nghiệp; trong đó 35 - 40% doanh nghiệp ứng dụng máy móc công nghiệp hiện đại, còn lại sử dụng thiết bị bán công nghiệp. 100% hộ dân trên địa bàn tham gia hoạt động nghề. Năm 2011, xã có 6/8 thôn được công nhận làng nghề và toàn xã đạt danh hiệu xã nghề. Cụm công nghiệp Phương La được quy hoạch và thu hút 22 doanh nghiệp đầu tư. Thị trường xuất khẩu khăn dệt mở rộng sang Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Singapore.
  • Hiện trạng ô nhiễm và bất cập trong quản lý: Nước thải phát sinh từ các lò nấu giặt, tẩy nhuộm chứa hàm lượng hóa chất cao được xả trực tiếp ra hệ thống thoát nước chung, sông ngòi mà không qua hệ thống xử lý.
  • Hồ sơ vi phạm và kiểm tra thực tế tại địa phương:
    • Ngày 20/07/2018, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 6 doanh nghiệp và đình chỉ hoạt động nấu, giặt tẩy nhuộm xả thải chưa xử lý. Điển hình là Công ty Xuất nhập khẩu Tuấn Lộc tự ý lắp đặt dây chuyền tẩy nhuộm khi chưa được cấp phép, xả hàng trăm mét khối nước thải chưa xử lý ra môi trường và bị xử phạt gần 450 triệu đồng.
    • Từ ngày 05 đến 11/06/2019, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Thái Bình do Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì đã tiến hành kiểm tra, lập biên bản niêm phong, đình chỉ hoạt động hệ thống nấu giặt tẩy nhuộm của 7 doanh nghiệp và 3 hộ gia đình tại thôn Phương La. Tuy nhiên, sau khi đoàn kiểm tra rút đi, một số cơ sở đã tự ý tháo gỡ niêm phong để tiếp tục vận hành.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý môi trường làng nghề

Tác giả đề xuất 2 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm giải quyết vấn đề ô nhiễm tại làng dệt Phương La:

1. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước:

  • Phân định trách nhiệm cơ quan chuyên môn:
    • Sở Tài nguyên và Môi trường: Thẩm định ĐTM và đề án bảo vệ môi trường chi tiết; tăng cường thanh tra, kiểm tra định kỳ; áp dụng nghiêm mức xử phạt hành chính theo Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (mức phạt tiền tối đa đến 1 tỷ đồng đối với cá nhân và 2 tỷ đồng đối với tổ chức; áp dụng hình thức phạt bổ sung tước quyền sử dụng giấy phép, tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm).
    • Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Rà soát, xây dựng quy hoạch phát triển ngành nghề nông thôn gắn với tiêu chí môi trường; hỗ trợ tái cơ cấu làng nghề và thúc đẩy di dời xưởng tẩy nhuộm vào khu tập trung.
  • Chính sách cấp tỉnh, huyện, xã: UBND huyện Hưng Hà và xã Thái Phương quy hoạch chuyển đổi đất nông nghiệp (đất trồng lúa kém hiệu quả) để tạo quỹ đất xây dựng Cụm công nghiệp tập trung, di dời các cơ sở dệt nhuộm xen kẽ trong khu dân cư; đầu tư xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung.
  • Hoàn thiện chính sách kinh tế tiểu thủ công nghiệp: Thiết lập trung tâm hỗ trợ tài chính, quỹ bảo lãnh tín dụng; đa dạng hóa hình thức cho vay trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi; đơn giản hóa thủ tục thế chấp cho các cơ sở làng nghề đầu tư công trình xử lý môi trường.
  • Giáo dục và tuyên truyền cộng đồng: Tuyên truyền qua hệ thống truyền thanh xã, truyền hình tỉnh, băng rôn khẩu hiệu; lồng ghép nội dung bảo vệ môi trường vào quy ước, hương ước làng văn hóa và các buổi sinh hoạt định kỳ của Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Người cao tuổi.

2. Nhóm giải pháp hướng tới phát triển bền vững:

  • Giải pháp vốn: Thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng thông qua các tổ chức chính trị - xã hội tại địa phương; mở rộng cơ chế cho vay ưu đãi phục vụ đổi mới công nghệ sạch và xử lý chất thải.
  • Giải pháp thị trường: Chủ động liên kết chuỗi cung ứng nguyên liệu sợi và hóa chất nhuộm đạt chuẩn trong nước (tại Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình) để giảm giá thành; mở rộng kênh phân phối nội địa và giữ vững các thị trường xuất khẩu trọng điểm (Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, EU).
  • Đào tạo nguồn nhân lực: Tổ chức các lớp dạy nghề tập trung do nghệ nhân giảng dạy; nâng cao trình độ văn hóa, ngăn chặn tình trạng học sinh bỏ học sớm làm nghề; bồi dưỡng kiến thức quản trị kinh doanh và pháp luật bảo vệ môi trường cho chủ cơ sở.
  • Đổi mới công nghệ và kỹ thuật: Cơ khí hóa đồng bộ các khâu sản xuất; chuyển giao công nghệ tẩy nhuộm tiên tiến, tiết kiệm nước và giảm thiểu phát thải hóa chất độc hại.
  • Xây dựng thương hiệu và quy hoạch: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tập thể cho sản phẩm khăn dệt Phương La; thành lập Hiệp hội làng nghề có tư cách pháp nhân; xây dựng cổng thông tin điện tử quảng bá sản phẩm; hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và quy hoạch mở rộng Cụm công nghiệp Phương La theo chuẩn môi trường.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Tổng hợp bức tranh thực tế về sự phát triển kinh tế của làng nghề Phương La (xã Thái Phương): Đạt mức tăng trưởng 13 - 14%/năm, quy tụ gần 100 doanh nghiệp, 22 dự án trong cụm công nghiệp, 6/8 thôn đạt chuẩn làng nghề và 100% hộ dân tham gia sản xuất.
  • Nhận diện và làm rõ nguồn phát thải ô nhiễm nghiêm trọng từ công đoạn nấu giặt, tẩy nhuộm thủ công với nước thải hóa chất không qua xử lý xả thẳng ra môi trường.
  • Cung cấp dẫn chứng số liệu kiểm tra, xử lý vi phạm thực tế tại địa phương: Điển hình vụ xử phạt 6 doanh nghiệp năm 2018 (Công ty XNK Tuấn Lộc bị phạt gần 450 triệu đồng) và đợt kiểm tra liên ngành tháng 6/2019 lập biên bản niêm phong 7 doanh nghiệp, 3 hộ gia đình.
  • Đánh giá toàn diện các bất cập trong quản lý môi trường cấp cơ sở: Tình trạng cơ sở sản xuất nằm xen kẽ trong khu dân cư, chế tài kiểm tra chưa đủ sức răn đe dẫn đến việc tự ý phá niêm phong sau kiểm tra, công cụ kinh tế chưa được áp dụng triệt để.

Hệ thống giải pháp đề xuất

  • Đề xuất khung giải pháp quản lý phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Sở TN&MT, Sở NN&PTNT và chính quyền các cấp huyện, xã.
  • Kiến nghị giải pháp quy hoạch không gian: Chuyển đổi đất lúa để di dời triệt để các cơ sở tẩy nhuộm ra khỏi khu dân cư vào Cụm công nghiệp Phương La có trạm xử lý nước thải tập trung.
  • Đề xuất giải pháp hỗ trợ tài chính thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng, ưu đãi thuế đất và thủ tục vay vốn phục vụ cải tiến công nghệ và xử lý chất thải.

Đóng góp về mặt học thuật và thực tiễn

Khóa luận đã phản ánh một trường hợp nghiên cứu điển hình về mâu thuẫn giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế làng nghề và nguy cơ suy thoái môi trường tại khu vực nông thôn đồng bằng sông Hồng. Đề tài đóng góp tư liệu thực địa có giá trị tham khảo đối với công tác hoạch định chính sách bảo vệ môi trường làng nghề dệt may cấp huyện và cấp tỉnh.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài tập trung phạm vi nghiên cứu thực địa chủ yếu tại thôn Phương La (làng Mẹo) và phân khúc dệt khăn bông; số liệu phân tích chất lượng nước thải dựa trên các nguồn thứ cấp và báo cáo kiểm tra của cơ quan quản lý, chưa có điều kiện thực hiện các đợt lấy mẫu và đo đạc độc lập toàn diện tại các điểm xả thải của từng hộ gia đình.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng đánh giá thực nghiệm công nghệ xử lý nước thải dệt nhuộm quy mô vừa và nhỏ phù hợp với khả năng tài chính của các hộ làng nghề; tính toán chi tiết bài toán kinh tế - kỹ thuật cho việc vận hành trạm xử lý nước thải tập trung tại Cụm công nghiệp Phương La.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo:
    • Sinh viên, học viên các ngành: Kinh tế tài nguyên và môi trường, Quản lý môi trường, Kinh tế phát triển, Khoa học môi trường, Quản lý đô thị và nông thôn.
    • Cán bộ quản lý môi trường tại các Chi cục Bảo vệ môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã có làng nghề dệt may.
    • Các chủ cơ sở sản xuất, doanh nghiệp tại các cụm công nghiệp làng nghề đang tìm kiếm giải pháp chuyển đổi và tuân thủ quy chuẩn môi trường.
  • Nội dung đáng tham khảo: Phương pháp tiếp cận kết hợp giữa công cụ quản lý nhà nước (pháp lý, thanh tra, quy hoạch đất đai) với công cụ kinh tế (quỹ tín dụng, hỗ trợ mặt bằng, thị trường) trong giải quyết ô nhiễm môi trường làng nghề dệt nhuộm.

Câu hỏi thường gặp

1. Lịch sử hình thành và sự chuyển đổi sản phẩm của làng nghề Phương La (làng Mẹo) diễn ra như thế nào?
Nghề dệt tại Phương La có lịch sử khoảng 700 năm, ban đầu nổi tiếng với nghề dệt lụa tơ tằm cổ truyền sử dụng kỹ thuật chuội lụa bằng mỡ cơm xôi. Cuối thập niên 1980, nghệ nhân Trần Văn Sen đưa kỹ thuật in hoa, tẩy nhuộm về làng. Trước sự thay đổi của thị hiếu thị trường và sự khan hiếm nguyên liệu tơ tằm, làng nghề đã chuyển hướng hoàn toàn sang sản xuất các dòng sản phẩm khăn bằng sợi bông (khăn mặt, khăn tắm, khăn thể thao, khăn khách sạn, khăn spa) cung ứng cho nội địa và xuất khẩu.

2. Quy mô doanh nghiệp và mức độ phát triển kinh tế của xã Thái Phương đạt được những kết quả gì?
Xã Thái Phương có gần 100 công ty, xí nghiệp; trong đó 35 - 40% cơ sở sử dụng máy móc công nghiệp hiện đại và số còn lại dùng máy bán công nghiệp. 100% hộ dân trong xã tham gia làm nghề. Năm 2011, xã có 6/8 thôn đạt tiêu chuẩn làng nghề và được công nhận là xã nghề. Cụm công nghiệp Phương La thu hút 22 doanh nghiệp đầu tư, đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế xã đạt 13 - 14%/năm và đóng góp 45 - 50% tổng giá trị sản xuất trên địa bàn.

3. Cơ quan chức năng đã ghi nhận và xử lý những vi phạm môi trường cụ thể nào tại làng Mẹo?
Ngày 20/07/2018, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính 6 doanh nghiệp xả thải chưa qua xử lý, trong đó Công ty XNK Tuấn Lộc tự ý lắp đặt dây chuyền tẩy nhuộm và xả hàng trăm mét khối nước thải chưa xử lý ra môi trường, bị phạt gần 450 triệu đồng. Từ ngày 05 - 11/06/2019, Đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh Thái Bình tiến hành kiểm tra, niêm phong và đình chỉ hệ thống nấu giặt tẩy nhuộm của 7 doanh nghiệp và 3 hộ gia đình tại thôn Phương La.

4. Tác giả đề xuất các cơ chế kinh tế và tài chính cụ thể nào nhằm hỗ trợ các cơ sở làng nghề xử lý ô nhiễm?
Tác giả đề xuất thành lập "Quỹ bảo lãnh tín dụng" thông qua sự bảo lãnh của các đoàn thể (Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn Thanh niên); mở rộng các gói vay vốn trung và dài hạn với lãi suất ưu đãi; đơn giản hóa thủ tục thế chấp vốn vay để các cơ sở có nguồn lực đổi mới máy móc, dây chuyền công nghệ sạch và đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải.

5. Vì sao các biện pháp đình chỉ, niêm phong trước đây chưa giải quyết dứt điểm ô nhiễm tại làng Mẹo?
Do các cơ sở dệt nhuộm phân bố xen kẽ trong khu dân cư, thiếu mặt bằng di dời, công tác giám sát hậu kiểm của cơ quan chức năng chưa thường xuyên và triệt để. Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật môi trường của một số chủ cơ sở còn thấp, đặt nặng mục tiêu lợi nhuận nên sau khi đoàn kiểm tra rời đi, một số hộ đã tự ý tháo dỡ niêm phong để tiếp tục vận hành.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hằng đã phân tích toàn diện thực trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động tẩy nhuộm tại làng nghề dệt Phương La (làng Mẹo), xã Thái Phương, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình. Tác phẩm đã chỉ rõ nguồn phát sinh nước thải độc hại chưa qua xử lý, đồng thời phản ánh khách quan những bất cập trong công tác giám sát, thực thi pháp luật môi trường tại cơ sở. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, bao quát từ quy hoạch không gian di dời cơ sở, áp dụng chế tài xử phạt hành chính, hỗ trợ vốn vay tín dụng đến nâng cao nhận thức cộng đồng nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững làng nghề dệt truyền thống.