CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LÝ MOI TRƯỜNG LANG NGHE. Khái niệm làng nghề Theo Điều 3 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn:“Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự tham gia hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này. Các hoạt động ngành nghề nông thôn Các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định trong Nghị định này bao gồm: 1. Chế biến, bảo quản nông, lâm, thủy sản.
Sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ. Xử lý, chế biến nguyên vật liệu phục vụ sản xuất ngành nghề nông thôn. Sản xuất đồ go, mây tre dan, gốm sứ, thủy tinh, dệt may, sợi, thêu ren, đan lát, cơ khí nhỏ. Sản xuất và kinh doanh sinh vật cảnh.
Sản xuất muối. Các dịch vụ phục vụ sản xuất, đời sống dân cư nông thôn.” Làng nghề là một nét đặc thù trong đời sống của nông thôn Việt Nam. Đa số các làng nghề đã có lịch sự phát triển hàng trăm năm, song song với đời sống Kinh tế - Xã hội, văn hóa và nông nghiệp của đất nước. Như làng nghề Đại Bái (Bắc Ninh) có lich sử hơn 900 năm phát triển hay làng Gốm Bat Trang đã trải qua 500 năm phát triển.
Làng nghề không chỉ là trung tâm sản xuất thủ công hàng hóa mà còn là điểm sinh hoạt, văn hóa khu vực của các vùng là nơi hội tụ những thợ thủ công có tay nghề cao mà tên tuổi gắn liền với sự phát triển của làng nghề. Hiện nay trên địa bàn cả nước có 4575 làng nghề, trong đó có 1324 làng nghề được công nhận và có 3221 làng có nghề. Các làng nghề truyền thống hầu hết tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Bắc Ninh, Nam Định, Thái Bình. Một số ít rải rác ở các vùng cao và châu thô miền Trung và miền Nam của nước ta.
Khái niệm làng nghề truyền thống Theo Điều 3 Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông 10 thôn: “-Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ lâu đời.” Theo từ điển bách khoa toàn thư : “làng nghề Việt Nam, làng nghề truyền thống, làng nghề thủ công, hoặc làng nghề cô truyền, ., thường được gọi ngắn là làng nghé, là những làng mà tại đó hau hết dân cư tập trung vào một nghề duy nhất nào đó; nghề của họ có tính chuyên sâu cao và mạng lại nguồn thu nhập cho dân làng”. Theo cách hiểu khác; “-làng nghề thủ công truyền thống là trung tâm sản xuất hàng hóa thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình làm nghề mang tính truyền thông, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời, có sự liên kết hỗ trợ trong sản xuất, bán sản phẩm theo kiểu phường hội, kiểu hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ có cùng tổ nghê và các thành viên luôn ý thức tuân thủ những ước chê xã hội và gia tộc”. Sự liên kết, hỗ trợ nhau về nghề, kinh tế, kỹ thuật và đào tạo thợ trẻ giữa các gia đình cùng dân tộc, cùng phường nghề trong quá trình lịch sử hình thành và phát triển nghề nghiệp đã hình thành làng nghề ngày trên đơn vị cư trú làng xóm của họ. Tại các làng nghề truyền thống, không nhất thiết phải là toàn bộ cư dân của làng làm nghề truyền thông, những người thợ thủ công cũng đồng thời là người nông dân.
Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên môn sản xuất làng nghé truyền thống ngay tại làng quê mình, hay ở một nơi tập trung khác. Theo thống kê của JICA phối hợp với Bộ Nông nghiệp & phát triển nông thôn thì hiện cả nước có 1450 làng nghề phân bố ở 58 tỉnh và thành phố trong cả nước, riêng địa bàn Đồng băng sông Hồng có khoảng 800 làng. Các tỉnh có số lượng làng nghề đông bao gồm: Hà Tây có 280 làng, Thái Bình có 187 làng, Bắc Ninh có 59 lang, Hai Dương có 65 làng, Nam Định có 90 làng, Thanh Hoá có 127 làng.Các loại hình ngành nghề thủ công cũng rất đa dạng, phong phú nhưng chủ yếu là các ngành như: sản xuất mây, tre đan, dệt vải, thêu ren, sản xuất đồ nội thất, sơn mài, tranh tượng. Những sản phẩm của các làng nghề truyền thống này đã tạo được chỗ đứng- trên thị trường như gốm sứ Bát Tràng, giấy Yên Hòa, dét Triều Khúc, kham gỗ Đồng Ky (Bắc Ninh), mây, tre đan, chiếu cói (Hưng Yên, Thái Bình).
Những sản phẩm này đáp ứng được thị hiếu cao của người tiêu dùng, đặc biệt là khách nước ngoài. Nhiều sản phẩm thủ công của các làng nghề đã được dự thi ở các cuộc triển lãm quốc tế và cũng đạt thứ hạng cao như: Giải Công vàng châu Âu cho đồ gỗ mỹ nghệ Phù Khê, Huy chương Vàng cho gốm sứ Đông Thành. 11 Điều này khuyến khích những nghệ nhân và nhân dân gắn bó với nghề truyền thống, mở rộng và phát triển các làng nghé.3 Khái niệm quản lý môi trường Quan lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triên bên vững kinh tê xã hội quôc gia. Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước về môi trường bao gồm: Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người.
Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sông, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội. Cuối cùng là xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư.
Khái niệm quản lý môi trường làng nghề Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tẾ, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường làng nghề và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia.2 Đặc trưng làng nghề tại Việt Nam 1. Lịch sử hình thành Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây. Cùng với sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp, nhiều nghề thủ công cũng đã ra đời tại các vùng nông thôn Việt Nam, ban đầu là những công việc phụ tranh thủ làm lúc nông nhàn, dé chế tai những vật dụng cần thiết trong sinh hoạt, phát triển lên thành nhu cau trao đôi hang hóa và tìm kiêm thu nhập ngoài nghê nông. Cùng với sự phát triển của văn minh nông nghiệp từ hàng ngàn năm trước đây, nhiều làng nghé thủ công đã ra đời tai các vùng nông thôn Việt Nam, việc hình thành các làng nghề bắt đầu từ những nghé ban đầu được cư dân tranh thủ 12 làm lúc nông nhàn, những lúc không phải là mùa vụ chính.
Bởi lẽ trước đây kinh tế của người dân Việt cô chủ yếu là sống dựa vào việc trồng lúa nước mà nghề làm lúc không phải lúc nào cũng có việc. Thông thường chỉ những ngày đầu vụ, hay những ngày cuối vụ thì người nông dân mới có việc làm nhiều, vất vả như: cày bừa, cấy, làm co (đầu cụ) cho đến lúc gặt lúa, phơi khô.còn những ngày còn lại thì nhà nông rất -nhàn hạ, rat ít việc dé làm. Từ đó nhiều người đã bắt đầu tìm kiếm thêm công việc phụ dé làm nhằm mục dich ban đầu là cải thiện bữa ăn và những nhu cầu thiết yêu hăng ngày về sau là tăng thêm thu nhập cho gia đình. Theo thời gian, nhiéu nghé phu ban đầu đã thé hiện được vai trò to lớn của nó, mang lại lợi ích thiết thân cho cư dân.
Như việc làm ra các đồ dùng băng mây, tre, lụa. phục vụ sinh hoạt hay đồ sắt, đồ đồng phục vụ sản xuất. Nghề phụ từ chỗ chỉ phục vụ nhu cầu riêng đã trở thành hàng hóa dé trao đôi, đã mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho người dân vốn trước đây chỉ trông chờ vào các vụ lúa. Từ chỗ một vài nhà trong làng làm, nhiều gia đình khác cũng học làm theo, nghề từ đó mà lan rộng ra phát triển trong cả làng, hay nhiều làng gần nhau.
Cũng chính nhờ những lợi ích khác nhau do các làng thủ công đem lại mà trong mỗi làng bắt đầu có sự phân hóa. Nghề đem lại lợi ích nhiều thì phát triển mạnh dần, ngược lại những nghề mà có hiệu quả thấp hay không phù hợp với làng thì dan dan bị mai một. Từ đó bắt đầu hình thành nên những làng nghề chuyên sâu vào một nghề duy nhất nào đó, như làng Gốm, làng làm chiếu, làng làm lục, làng làm đồ đồng. Những phát hiện về khảo cổ học, những cứ liệu lịch sử đã chứng minh được các làng nghề Việt Nam đã ra đời từ hàng ngàn năm trước đây.
Các làng nghề thường tập trung chủ yếu ở cùng châu thé sông lớn -như châu thé sông Hồng, tại Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Thái Bình, Nam Định; tại duyên hải miền trung thì các làng nghề tập trung chủ yêu ở các tỉnh như: Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Phú Yên. Còn ở miền nam thì các làng nghề tập trung chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh, và các vùng lân cận. Sản phâm từ các làng nghê Việt Nam có nét riêng và độc đáo, tên của sản phâm luôn kèm theo tên của lang làm ra nó-, sản phâm nôi tiêng cũng làm cho làng nghê tạo ra các sản phâm ây nôi tiêng. Những sản phẩm từ các làng nghề không chỉ là những vật phẩm sinh hoạt 13 bình thường hàng ngày, mà một số còn là những tác phẩm nghệ thuật biéu trưng của nền văn hóa xã hội, mức độ phát triển kinh tế, trình độ dân trí, đặc điểm nhân văn của dân tộc.
Làng nghề là cả một môi trường văn hóa — kinh tế - Xã hội và công nghệ truyền thống lâu đời. Nó bảo lưu những tỉnh hoa nghệ thuật và kỹ thuật truyền từ đời này sang đời khác, chung đúc ở các thế hệ nghệ nhân tài năng, với những sản pham có bản sắc riêng của mình, nhưng lại tiêu biểu và độc đào của cả dân tộc Việt Nam.