Đánh giá kết quả điều trị u lympho ác tính không hodgkin tái phát bằng phác đồ gdp và ghép tế bào gốc tạo máu tự thân

Đánh giá hiệu quả phác đồ GDP và ghép tế bào gốc trong điều trị u lympho không Hodgkin tái phát. Nghiên cứu chuyên sâu về huyết học và truyền máu.

Trường đại học

Trường Đại Học Y Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

190
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan U Lympho Không Hodgkin Tái Phát và Thách Thức

U lympho không Hodgkin tái phát (ULAKH) là tình trạng bệnh lý ác tính của hệ bạch huyết tái xuất hiện sau khi đã điều trị thành công. Đây là một thách thức lớn trong điều trị ung thư, đặc biệt là với thể tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL). Tỷ lệ tái phát ở DLBCL dao động từ 30-40% sau 2-5 năm điều trị ban đầu (theo tài liệu gốc). Việc điều trị ULAKH tái phát gặp nhiều khó khăn do tỷ lệ đáp ứng thấp và thời gian sống thêm ngắn. Nghiên cứu tập trung vào việc cải thiện hiệu quả điều trị và kéo dài thời gian sống thêm cho bệnh nhân ULAKH tái phát. Các phác đồ hóa trị liệu như DHAP, ICE, ESHAP đã được sử dụng, tuy nhiên, hiệu quả điều trị còn hạn chế và độc tính cao. Ghép tế bào gốc (GTBG) tạo máu tự thân đã chứng minh hiệu quả, nhưng đòi hỏi bệnh nhân phải đạt đáp ứng ít nhất một phần với hóa trị và thu thập đủ tế bào gốc.

1.1. Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ của ULAKH tái phát

ULAKH là bệnh lý ác tính thường gặp trong chuyên khoa Huyết học. Theo GLOBOCAN 2020, tỷ lệ mắc mới ULAKH là 19.81/100.000 dân trên thế giới. Tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 60, và tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn nữ giới. Các yếu tố nguy cơ bao gồm virus (EBV, HIV), vi khuẩn (Helicobacter pylori), tác nhân vật lý/hóa học (tia xạ, thuốc trừ sâu), bệnh tự miễn, hội chứng suy giảm miễn dịch và biến đổi di truyền. Virus EBV là một tác nhân trực tiếp gây ra bệnh ULAKH. Virus HP có vai trò đối với ULAKH liên quan đến niêm mạc dạ dày (thể MALT).

1.2. Phân loại và đặc điểm lâm sàng của ULAKH tái phát

Việc phân loại ULAKH dựa trên bảng phân loại của Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) được cập nhật vào các năm 2008 và 2016. Triệu chứng lâm sàng của ULAKH tái phát đa dạng, bao gồm hạch to, triệu chứng toàn thân (sốt, sụt cân, đổ mồ hôi đêm), và tổn thương ngoài hạch. Tổn thương hạch thường phân bố đối xứng hai bên và lan tràn không theo kiểu xâm lấn. Triệu chứng B có thể do tăng chuyển hóa của cơ thể liên quan đến ung thư. Các triệu chứng khác như thiếu máu, xuất huyết, chèn ép tĩnh mạch chủ trên, đau xương do xâm lấn cũng có thể gặp.

II. Phác Đồ GDP Giải Pháp Điều Trị U Lympho Tái Phát Hiệu Quả

Phác đồ GDP (Gemcitabine, Cisplatin, Dexamethasone) đang được sử dụng rộng rãi trên thế giới như một lựa chọn điều trị cứu vãn hiệu quả cho ULAKH tái phát. Phác đồ này thường được kết hợp với Rituximab nếu tế bào u dương tính với CD20. Nghiên cứu cho thấy phác đồ GDP có tỷ lệ đáp ứng cao, độc tính của phác đồ GDP thấp và giảm chi phí điều trị so với các phác đồ khác. Tuy nhiên, cần đánh giá hiệu quả của phác đồ này trong bối cảnh Việt Nam. Nghiên cứu này đánh giá kết quả điều trị, tác dụng phụ của phác đồ GDP và GTBG tạo máu tự thân điều trị ULAKH tế bào B tái phát. Trung tâm Huyết học và Truyền máu - Bệnh viện Bạch Mai đã tiến hành GTBG tạo máu điều trị bệnh máu ác tính, trong đó có ULAKH, từ năm 2012.

2.1. Thành phần và cơ chế tác dụng của phác đồ GDP

Phác đồ GDP bao gồm ba loại thuốc: Gemcitabine, Cisplatin và Dexamethasone. Gemcitabine là một chất tương tự nucleoside có tác dụng ức chế sự tổng hợp DNA. Cisplatin là một chất hóa trị liệu platinum có tác dụng gây tổn thương DNA. Dexamethasone là một corticosteroid có tác dụng chống viêm và ức chế miễn dịch. Cơ chế tác dụng của phác đồ GDP là kết hợp tác dụng của cả ba loại thuốc để tiêu diệt tế bào u lympho.

2.2. Ưu điểm và hạn chế của phác đồ GDP so với phác đồ khác

So với các phác đồ hóa trị liệu khác, GDP có ưu điểm là tỷ lệ đáp ứng cao, độc tính thấp hơn và chi phí điều trị thấp hơn. Tuy nhiên, GDP vẫn có những hạn chế nhất định, chẳng hạn như tác dụng phụ trên hệ tạo máu, gan và thận. Phác đồ GDP thường được kết hợp với Rituximab (nếu tế bào u dương tính với CD20) để tăng cường hiệu quả điều trị.

III. Ghép Tế Bào Gốc Phương Pháp Tối Ưu U Lympho Không Hodgkin

Ghép tế bào gốc (GTBG) tạo máu tự thân là một phương pháp điều trị u lympho không Hodgkin tái phát hiệu quả. GTBG giúp phục hồi chức năng tủy xương sau khi bệnh nhân được điều trị bằng hóa chất liều cao để tiêu diệt tế bào ung thư. Để đủ điều kiện GTBG, bệnh nhân cần đáp ứng một phần với hóa trị liệu và thu thập đủ lượng tế bào gốc cần thiết. Tuy nhiên, GTBG cũng có những biến chứng tiềm ẩn như nhiễm trùng, suy tạng và bệnh ghép chống chủ. GTBG đã chứng minh đƣợc hiệu quả trong điều trị ULAKH tái phát. Tuy nhiên, để có thể tiến hành GTBG tạo máu tự thân thì trƣớc tiên ngƣời bệnh phải đƣợc điều trị bằng hóa trị liệu, đạt đƣợc đáp ứng một phần trở lên và thu đủ lƣợng tế bào gốc (TBG) tạo máu cần thiết.

3.1. Quy trình ghép tế bào gốc và các giai đoạn quan trọng

Quy trình GTBG bao gồm nhiều giai đoạn: đánh giá bệnh nhân, huy động và thu thập tế bào gốc, điều trị hóa chất liều cao (điều kiện hóa), truyền tế bào gốc, và theo dõi sau ghép. Giai đoạn điều kiện hóa nhằm tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể. Sau đó, tế bào gốc được truyền vào để tái tạo hệ tạo máu. Việc theo dõi sau ghép rất quan trọng để phát hiện và điều trị các biến chứng.

3.2. Biến chứng và tác dụng phụ của ghép tế bào gốc

GTBG có thể gây ra nhiều biến chứng và tác dụng phụ. Các biến chứng sớm bao gồm nhiễm trùng, chảy máu, suy tạng, và hội chứng giải phóng cytokine. Các biến chứng muộn bao gồm bệnh ghép chống chủ, suy giảm miễn dịch kéo dài, và các bệnh ác tính thứ phát. Việc quản lý biến chứng sau ghép đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ huyết học, điều dưỡng và các chuyên gia khác.

IV. Nghiên Cứu Thực Tiễn Đánh Giá Phác Đồ GDP Ghép Tế Bào Gốc

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả và tác dụng không mong muốn của phác đồ GDP và phương pháp ghép tế bào gốc (GTBG) tạo máu tự thân trong điều trị u lympho không Hodgkin tái phát (ULAKH) tế bào B. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực tiễn về việc ứng dụng phác đồ GDP và GTBG trong điều trị ULAKH tái phát tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, giúp tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân. Để đánh giá kết quả điều trị của phác đồ này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm hai mục tiêu: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Đánh giá kết quả điều trị, tác dụng không mong muốn của phác đồ GDP (có bổ sung thêm Rituximab nếu tế bào u dương tính với CD20) và phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân điều trị bệnh u lympho ác tính không Hodgkin tế bào B tái phát.

4.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp hồi cứu hoặc tiến cứu (tùy thuộc vào nguồn tài liệu gốc). Đối tượng nghiên cứu là bệnh nhân ULAKH tế bào B tái phát được điều trị bằng phác đồ GDP và GTBG tạo máu tự thân tại Trung tâm Huyết học và Truyền máu - Bệnh viện Bạch Mai (hoặc cơ sở nghiên cứu tương đương). Các tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ bệnh nhân được xác định rõ ràng để đảm bảo tính khách quan của nghiên cứu.

4.2. Các tiêu chí đánh giá kết quả điều trị

Các tiêu chí đánh giá bao gồm tỷ lệ đáp ứng (đáp ứng hoàn toàn, đáp ứng một phần, ổn định bệnh, tiến triển bệnh), thời gian sống thêm không bệnh (PFS), thời gian sống thêm toàn bộ (OS), và tỷ lệ biến chứng liên quan đến điều trị. Các tiêu chí này được đánh giá theo các tiêu chuẩn quốc tế như Lugano criteria.

V. Ảnh Hưởng Yếu Tố Phân Tích Kết Quả Phác Đồ GDP và GTBG

Nghiên cứu đi sâu phân tích ảnh hưởng của một số yếu tố như tuổi, giới tính, giai đoạn bệnh, chỉ số tiên lượng quốc tế (IPI), và các yếu tố sinh học phân tử đến kết quả điều trị bằng phác đồ GDP và GTBG. Việc xác định các yếu tố tiên lượng giúp cá nhân hóa điều trị và cải thiện kết quả cho bệnh nhân. Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của phác đồ GDP và phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân ở người bệnh u lympho ác tính không Hodgkin tế bào B tái phát.

5.1. Ảnh hưởng của tuổi tác và giai đoạn bệnh

Tuổi tác và giai đoạn bệnh là những yếu tố tiên lượng quan trọng trong ULAKH. Bệnh nhân lớn tuổi thường có sức khỏe kém hơn và khả năng đáp ứng với điều trị thấp hơn. Giai đoạn bệnh càng cao, tiên lượng càng xấu. Nghiên cứu phân tích mối liên quan giữa tuổi, giai đoạn bệnh và kết quả điều trị bằng GDP và GTBG.

5.2. Vai trò của chỉ số tiên lượng quốc tế IPI

IPI là một hệ thống tiên lượng dựa trên các yếu tố như tuổi, giai đoạn bệnh, thể trạng, nồng độ LDH, và số lượng tổn thương ngoài hạch. IPI giúp phân tầng nguy cơ cho bệnh nhân ULAKH và dự đoán khả năng đáp ứng với điều trị. Nghiên cứu đánh giá vai trò của IPI trong dự đoán kết quả điều trị bằng GDP và GTBG.

VI. Kết Luận Hướng Phát Triển Điều Trị U Lympho Tái Phát

Nghiên cứu đóng góp vào việc đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phác đồ GDP và GTBG trong điều trị ULAKH tái phát tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu giúp các bác sĩ có thêm thông tin để lựa chọn phác đồ điều trị phù hợp cho từng bệnh nhân. Các hướng nghiên cứu tiếp theo tập trung vào việc tìm kiếm các liệu pháp mới, như liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch, để cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân ULAKH tái phát. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu thực tiễn về việc ứng dụng phác đồ GDP và GTBG trong điều trị ULAKH tái phát tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng xác định các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị, giúp tối ưu hóa phác đồ điều trị cho từng bệnh nhân.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu và ý nghĩa lâm sàng

Nghiên cứu tóm tắt các kết quả chính, bao gồm tỷ lệ đáp ứng, thời gian sống thêm, và tỷ lệ biến chứng. Ý nghĩa lâm sàng của kết quả được thảo luận, nhấn mạnh những lợi ích và hạn chế của phác đồ GDP và GTBG. Những kết quả này cần được xem xét trong bối cảnh thực tiễn điều trị tại Việt Nam.

6.2. Hướng nghiên cứu và phát triển trong tương lai

Hướng nghiên cứu trong tương lai tập trung vào việc tối ưu hóa phác đồ GDP, kết hợp với các liệu pháp mới, và cá nhân hóa điều trị dựa trên các yếu tố tiên lượng và đặc điểm sinh học phân tử của bệnh nhân. Việc phát triển các liệu pháp nhắm trúng đích và liệu pháp miễn dịch hứa hẹn sẽ cải thiện đáng kể kết quả điều trị cho bệnh nhân ULAKH tái phát.

18/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ U lympho ác tính không Hodgkin (ULAKH) là nhóm bệnh lý ác tính của hệ bạch huyết, thƣờng gặp là u lympho tế bào lympho B. ULAKH có triệu chứng lâm sàng đa dạng với đặc trƣng là sự tiến triển lan rộng bất thƣờng của hệ thống hạch bạch huyết, ngoài ra bệnh còn có thể khởi phát ở ngoài hệ thống hạch nhƣ ở dạ dày, ruột, phổi, xƣơng, vú, da, tinh hoàn…[1], [2]. Theo báo cáo của tổ chức nghiên cứu ung thƣ trên thế gới (GLOBOCAN) năm 2020, tỷ lệ mắc mới là 19,81/100.000 dân đứng thứ 12 trong số các ung thƣ, ở Việt Nam tỷ lệ mắc mới là 10,07/100. Bệnh đƣợc Thomas Hodgkin mô tả từ năm 1890.

Xuyên suốt chiều dài lịch sử đã có rất nhiều bảng phân loại ra đời đặc biệt là trong 2 thập niên gần đây, đủ thấy việc phân loại mô bệnh học trong ULAKH là rất phức tạp và đa dạng. Đến năm 2001, Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG) mới thống nhất và giới thiệu bảng phân loại ULAKH dựa trên nền tảng của bảng phân loại của châu Âu và Mỹ (The Revised European American Lymphoma Classification - REAL) [4]. Bảng phân loại này đƣợc cập nhật lại vào các năm 2008 và 2016. Nhờ vào sự tiến bộ trong phân loại ULAKH và những nghiên cứu mức độ phân tử giúp các nhà khoa học tìm ra và ứng dụng nhiều thuốc mới có hiệu quả cao vào điều trị ULAKH, nổi bật nhất đó là Rituximab.

Có thể nói sự ra đời của Rituximab đã mở ra kỷ nguyên mới trong điều trị ULAKH tế bào B; sự kết hợp giữa Rituximab với phác đồ CHOP (Cyclophosphamide, Hydroxydaunorubicin, Oncovin, Prednisolone) làm tăng thời gian sống thêm không bệnh và sống thêm toàn bộ trung bình lên 4 năm [5]. Tuy vậy, cho đến nay vẫn chƣa có phƣơng pháp nào chữa khỏi hẳn bệnh ULAKH, bệnh sẽ tái phát trong khoảng thời gian từ 2 đến 5 năm, với tỷ lệ khoảng 30-40% ở thể bệnh hay gặp nhất là thể tế bào B lớn lan tỏa (DLBCL) [6], [7]. Giai đoạn này, bệnh rất khó điều trị, tỷ lệ đáp ứng thấp, thời gian sống thêm ngắn. Ghép tế bào gốc (GTBG) tạo máu tự thân đã chứng minh đƣợc hiệu quả trong điều trị ULAKH tái phát.

Tuy nhiên, để có thể tiến hành GTBG tạo máu 2 tự thân thì trƣớc tiên ngƣời bệnh phải đƣợc điều trị bằng hóa trị liệu, đạt đƣợc đáp ứng một phần trở lên và thu đủ lƣợng tế bào gốc (TBG) tạo máu cần thiết. Một số phác đồ đa hóa trị liệu có bổ sung thêm Rituximab nếu tế bào u dƣơng tính với CD20 thƣờng hay đƣợc sử dụng để điều trị giai đoạn này nhƣ: DHAP (Dexamethasole, High-dose Ara-C, Cisplastin), ICE (Ifosfamide, Carboplatin, Etoposide), ESHAP (Etoposide, Methylprednisolone, High-dose Ara-C, Cisplastin)… các phác đồ này chƣa đƣợc đánh giá hiệu quả điều trị ở Việt Nam, bên cạnh đó các phác đồ này còn có nhiều độc tính [8]. Trên thế giới, nhiều cơ sở điều trị kết hợp ba hoạt chất là: Gemcitabine, Cisplastin và Dexamethazone (phác đồ GDP) bổ sung thêm Rituximab nếu tế bào u dƣơng tính với CD20 điều trị ULAKH tái phát và đạt đƣợc nhiều kết quả tốt, độc tính thấp, giảm chi phí điều trị cho ngƣời bệnh [7], [9], [10]. Từ năm 2012, Trung tâm Huyết học và Truyền máu - Bệnh viện Bạch Mai tiến hành GTBG tạo máu điều trị bệnh máu ác tính trong đó có bệnh ULAKH.

Việc lựa chọn phác đồ điều trị cho nhóm bệnh ULAKH tái phát trƣớc khi GTBG tạo máu tự thân phải đạt các tiêu chí nhƣ: tỷ lệ đáp ứng cao, độc tính thấp, nhất là độc tính đối với hệ tạo máu. Phác đồ GDP có bổ sung thêm Rituximab nếu tế bào u dƣơng tính với CD20 đã đƣợc sử dụng để điều trị cho ngƣời bệnh ULAKH tái phát. Để đánh giá kết quả điều trị của phác đồ này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm hai mục tiêu: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Đánh giá kết quả điều trị, tác dụng không mong muốn của phác đồ GDP (có bổ sung thêm Rituximab nếu tế bào u dương tính với CD20) và phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân điều trị bệnh u lympho ác tính không Hodgkin tế bào B tái phát.

Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của phác đồ GDP và phương pháp ghép tế bào gốc tạo máu tự thân ở người bệnh u lympho ác tính không Hodgkin tế bào B tái phát. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. BỆNH U LYMPHO ÁC TÍNH KHÔNG HODGKIN 1. Định nghĩa ULAKH là một nhóm bệnh lý ác tính của hệ bạch huyết, thƣờng gặp là tế bào lympho B.

Đặc trƣng của bệnh là sự lan rộng bất thƣờng hệ thống hạch bạch huyết và có thể cả các mô ngoài hạch [1], [2]. Dịch tễ ULAKH là nhóm bệnh lý ác tính thƣờng gặp trong chuyên khoa Huyết học. Theo báo cáo của tổ chức nghiên cứu ung thƣ trên thế giới (GLOBOCAN) năm 2020, tỷ lệ mắc mới là 19,81/100.000 dân đứng thứ 12 trong số các ung thƣ, ở Việt Nam tỷ lệ mắc mới là 10,07/100. Độ tuổi trung bình lúc chẩn đoán là 60 tuổi, có sự khác nhau về tuổi giữa 2 thể ULAKH tiến triển nhanh và tiến triển chậm.

ULAKH tiến triển chậm thƣờng gặp ở ngƣời cao tuổi, những thể tiến triển nhanh nhƣ: nguyên bào miễn dịch, u lympho Burkitt… thƣờng gặp ở ngƣời trẻ tuổi. Tỷ lệ mắc bệnh ở nam giới cao hơn ở nữ giới [1], [11], [12], [13]. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh vẫn chƣa rõ ràng nhƣng có một số yếu tố nguy cơ mà y văn thế giới đã liệt kê bao gồm [1], [2], [11], [12]: a. Virus và vi khuẩn: các virus Epstein Barr virus (EBV), Human Immunodeficiency virus (HIV), Human T-Cell leukemia/lymphoma virus-1 (HTLV-1), Human Herpes virus 8 (HHV8) đƣợc thừa nhận là các tác nhân trực tiếp gây ra bệnh ULAKH, trong đó nổi trội nhất là vai trò của EBV [14].

Vi khuẩn Helicobacter pyroli (HP) có vai trò đối với ULAKH liên quan đến niêm mạc dạ dày (thể MALT) [15], [16]. Tác nhân vật lý và hóa học: các yếu tố ở ngoài môi trƣờng sống nhƣ: tia xạ, phóng xạ, thuốc trừ sâu, diệt cỏ, thuốc điều trị ung thƣ, Diphenylhydantoin, Benzene, Formaldehyde… những ngƣời tiếp xúc thƣờng xuyên với các yếu tố này có tỷ lệ mắc ULAKH tăng cao. Trên thế giới đã ghi nhận tỷ lệ mắc bệnh lơ xê mi và u lympho tăng cao ở những ngƣời bị ảnh hƣởng trực tiếp và những ngƣời sống ở những khu lân cận sau vụ ném bom nguyên tử tại Hiroshima (Nhật Bản) và vụ nổ nhà máy điện hạt nhân Chernobyl (Ucraina) [17], [18]. Bệnh tự miễn, hội chứng suy giảm miễn dịch bẩm sinh, mắc phải: ULAKH có liên quan nhiều đến các bệnh lý tự miễn nhƣ: viêm đa khớp dạng thấp, lupus ban đỏ hệ thống, hội chứng Sjogren.

Ngƣời bệnh HIV/AIDS có nguy cơ mắc ULAKH cao gấp 150 - 650 lần. Cơ chế của hiện tƣợng này còn chƣa đƣợc hiểu biết đầy đủ [14]. Sự biến đổi cấu trúc di truyền [1], [19], [20]. - Sự tái sắp xếp gen: các tế bào lympho T và B ác tính có sự tái sắp xếp ADN để trình diện những thụ thể đặc hiệu kháng nguyên.

Bằng kỹ thuật xét nghiệm phản ứng chuỗi polymerase (PCR) có thể phát hiện đột biến gen đó. - Chuyển đoạn nhiễm sắc thể: trong u lympho Burkitt, oncogen C-myc chuyển dạng đƣợc tìm thấy ở nhiễm sắc thể (NST) số 8 tại vị trí chuyển đoạn với gen chuỗi nặng trên NST số 14 hay một trong các gen chuỗi nhẹ trên NST số 2 hoặc NST số 22, chuyển đoạn t(14;18) trong u lympho thể nang hoặc một số chuyển đoạn khác nhƣ t(11;14) hay t(2;5). Đặc điểm lâm sàng a. Triệu chứng toàn thân (triệu chứng B): các triệu chứng này có thể do cơ chế tăng chuyển hóa của cơ thể liên quan đến ung thƣ bao gồm các triệu chứng sau [1], [2]: - Sút cân trên 10% trọng lƣợng cơ thể trong vòng 6 tháng.

5 - Sốt cao trên 380C kéo dài trên 1 tuần, dai dẳng hoặc tái diễn. - Ra mồ hôi về đêm mà không tìm đƣợc nguyên nhân khác. Các triệu chứng khác nhƣ: thiếu máu, xuất huyết, chèn ép tĩnh mạch chủ trên do khối hạch trung thất lớn, đau xƣơng do xâm lấn, lồi mắt do u ở hốc mắt, tắc ruột do u chèn ép hoặc xấm lấn làm chít hẹp lòng ruột… thƣờng gặp trong nhóm có diễn tiến lâm sàng rất nhanh nhƣ thể nguyên bào lympho. Triệu chứng thực thể: - Hạch to: thƣờng gặp là tổn thƣơng hạch nguyên phát, phân bố hạch đối xứng hai bên và lan tràn không theo kiểu xâm lấn.

Tuy nhiên có sự khác biệt giữa ba nhóm nhƣ sau: + Nhóm diễn tiến lâm sàng chậm: thƣờng gặp hạch to vùng cổ, ấn chắc, không đau, đôi khi hạch lúc to, lúc nhỏ. + Nhóm diễn tiến lâm sàng nhanh: hạch cổ to cũng là triệu chứng hay gặp nhất, diễn tiến nhanh trong vòng 1-2 tháng, thƣờng có triệu chứng B và các tổn thƣơng ngoài hạch đi kèm. + Nhóm diễn tiến lâm sàng rất nhanh: thƣờng hay gặp là hạch to gây chèn ép, điển hình là hạch trung thất to chèn ép tĩnh mạch chủ trên (phù áo khoác). Hạch ổ bụng to, gây đau, tắc ruột… Khi khám hạch cần phải trực tiếp thăm khám tới mọi vị trí hạch bạch huyết tiềm tàng có khả năng liên quan nhƣ: vòng Waldeyer, vùng cổ, thƣợng đòn, nách, bẹn, đùi, gan, lách, gáy, ống cánh tay, vùng trƣớc tai, kheo chân.

- Tổn thƣơng ngoài hạch: có thể là tổn thƣơng nguyên phát hoặc thứ phát do tổ chức u xâm lấn: + Nhóm diễn tiến lâm sàng chậm: tổn thƣơng ngoài hạch nguyên phát ít gặp (< 10%) nhƣng tổn thƣơng thứ phát hay gặp nhƣ: xâm lấn tủy, gan… rất hiếm gặp tình trạng thâm nhiễm thần kinh trung ƣơng. 6 + Nhóm diễn tiến lâm sàng nhanh: tổn thƣơng ngoài hạch nguyên phát hay gặp hơn (khoảng 20 - 30%). + Nhóm diễn tiến lâm sàng rất nhanh: thƣờng gặp là thâm nhiễm thần kinh trung ƣơng và tủy xƣơng. Đặc điểm cận lâm sàng a.

Xét nghiệm tế bào học và mô bệnh học hạch/khối u - Xét nghiệm tế bào học hạch/u: giúp định hƣớng chẩn đoán trong nhiều trƣờng hợp và định hƣớng các thăm dò tiếp theo. - Mô bệnh học hạch/u: sinh thiết trọn vẹn một hạch bạch huyết hoặc tổ chức khối u là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh ULAKH, xét nghiệm này cho thấy các tế bào lympho bất thƣờng có xu hƣớng phá hủy cấu trúc đặc trƣng của hạch. Còn ở các tổ chức lympho khác, tế bào ác tính thâm nhiễm giữa các tế bào lành, sợi collagen hoặc các sợi cơ của mô bị ảnh hƣởng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ