Chương 1: Tổng quan và cơ sở lí luận nghiên cứu Chương 2: Quy trình và thiết kế công cụ nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu về hình thức DHTDA của các tác giả Việt Nam. Tác giả Lưu Thu Thủy Viện Khoa học Giáo Dục Việt Nam trong bài viết tổng hợp về “Phương pháp dạy học theo dự án” đã trình bày cơ sở lý thuyết của hình thức DHTDA như khái niệm, đặc điểm, mục tiêu, cách thức thực hiện, ưu nhược điểm của hình thức DHTDA và các nội dung khác. Tác giả cho rằng: “Ở Việt Nam, các dự án môn học, dự án tốt nghiệp từ lâu cũng đã được sử dụng trong đào tạo đại học, các hình thức này gần gũi với dạy học theo DA.
Tuy vậy trong lĩnh vực lý luận dạy học, phương pháp dạy học này chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thích đáng, nên việc sử dụng chưa đạt hiệu quả cao”. [17] Có một số tác giả cũng đã bắt đầu viết về việc sử dụng hình thức DHTDA cho các bộ môn học khác nhau cho các học sinh ở bậc Đại học hoặc các cấp từ tiểu học trở lên. Ví dụ: tác giả Tống Xuân Tám, trường ĐHSP TP.HCM có bài giảng về hình thức DHTDA dành cho các sinh viên Khoa Sinh học; Nguyễn Thị Thanh Thanh, Trường ĐH Ngoại Ngữ, Đại Học Đà Nẵng có tác phẩm: “Đa dạng hóa hình thức giảng dạy ngoại ngữ bằng phương pháp dạy học theo DA”. Tác giả Hà Thị Thúy (2015), trong luận án Tiến sỹ với đề tài: “Tổ chức dạy học theo DA sinh học 10 THPT góp phần nâng cao năng lực tự học cho học sinh” cũng đã có những kết quả đánh giá bước đầu thí điểm tổ chức dạy học theo DA cho học sinh lớp 10 THPT.
Theo tác giả, “nguồ n thông tin, công cu ̣ thu thâ ̣p thông tin không có sự khác biê ̣t giữa trước v à sau thực nghiê ̣m nhưng chấ t lươ ̣ng thông tin , hình thức biểu đạt thông tin được tích lũy sau quá trình học là thay đổ i , dù dạy theo phương pháp truyền thống hay dạy học theo DA thì kĩ năng thực hành đều tăng nhưng nhóm ho ̣c theo DA có kĩ năng hoạt động thực hành tố t hơn .” Tác giả cũng phân tích các lí do dẫn đến một số kỹ năng của học sinh chưa có sự thay đổi nhiều và vẫn khẳng định mức độ đạt được mục tiêu giáo dục của hình thức DHTDA dựa trên “kết quả điểm của từng bài kiểm tra và sự ghi nhận sự biến chuyển tích cực những biểu hiện năng lực tự học của học sinh” [16]. Tác giả Lý Tuyết Ly với đề tài luận văn thạc sỹ giáo dục: “Thử nghiệm mô hình dạy học theo DA với trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tại thành phố Cà Mau” năm 2014 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng đã đưa ra kết luận việc áp dụng mô hình dạy học theo DA tại thành phố Cà Mau là phù hợp với mục tiêu đổi mới giáo dục mầm non, phù hợp với tinh thần dạy học hướng vào người học và phù hợp với điều kiện giáo dục mầm non tại thành phố Cà Mau. [10] Với các tài liệu nước ngoài, có rất nhiều tác giả nước ngoài đã viết về hình thức DHTDA. Khởi đầu cho phương pháp này có thể kể đến John Dewey với ý tưởng “học thông qua trải nghiệm”.
Dewey tin rằng giữa những động lực của quá trình thực nghiệm ở trẻ em hay người lớn không hề có sự khác biệt. Cả hai đối tượng này đều là những cá thể tích cực học hỏi bằng cách đương đầu với những tình huống rắc rối nảy sinh trong những hoạt động của mình. Đối với cả trẻ em và người lớn, tư duy là một phương tiện nhằm giải quyết những vấn đề trong thực nghiệm, và tri thức được tích lũy thông qua quá trình giải quyết những vấn đề đó. Trong tác phẩm “Quan điểm sư phạm của tôi” (1897), Dewey đã nêu lên những điểm ông tin rằng giáo dục cần phải làm: “GV không phải ở trường để áp đặt các ý tưởng hoặc hình thành các thói quen nào đó cho trẻ mà giáo viên cần ở đó như một thành viên của cộng đồng để lựa chọn những ảnh hưởng tác động đến trẻ và giúp chúng phản hồi lại một cách đúng đắn với các tác động đó.
Do đó, tôi tin rằng cái mà chúng ta gọi là các hoạt động mang tính thể hiện hoặc xây dựng sẽ là mấu chốt của sự tương tác giữa GV và học sinh” [18]. Học thuyết giáo dục của Dewey yêu cầu GV thực hiện một nhiệm vụ vô cùng khó khăn là đưa chủ đề của chương trình học vào kinh nghiệm thực tế. John Dewey đã nghiên cứu, thực nghiệm và đưa lên quan điểm giáo dục của mình, đó là: trong quá trình dạy học phải để cho người học được trải nghiệm cuộc sống thực tiễn và cách duy nhất để chuẩn bị cho đời sống xã hội là tham gia vào đời sống xã hội. Năm 1896 ông và cộng sự đã thành lập Trường thực nghiệm (Trường Dewey) tại Đại học Chicago.
Tại đây đã cho ông nhiều cơ hội nghiên cứu và phát triển trào lưu tân giáo dục. Ông phê phán lối dạy nhồi nhét, áp đặt trẻ em ghi nhớ thụ động, học vẹt đang diễn ra phổ biến ở Mỹ và trên thế giới. Ông nêu ra sự thất bại trong giáo dục để từ đó đưa ra phương pháp dạy học hướng tới năng lực và hứng thú của học sinh. Không những thế, ông cũng đề ra cách làm tích cực và cụ thể, cách làm đó đi từ một triết lí giáo dục hoặc lí luận dạy học.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.Kilpatrick (1871- 1965) đã phát triển tư tưởng triết lí giáo dục của John Dewey, xây dựng các khái niệm và phổ biến rộng rãi phương pháp dạy học theo dự án qua một tác phẩm có tựa đề “Phương pháp DA”. Kilpatrick đã đưa ra quan điểm là phải tạo môi trường phù hợp để trẻ em phát triển năng lực bản thân trong hình thức dạy học theo DA. Ông kết luận rằng "tâm lý của đứa trẻ" là yếu tố quan trọng trong quá trình học tập. Trẻ em phải được tự do quyết định những gì các em sẽ thực hiện trong hoạt động học tập.
Niềm tin, động lực và thành công trong học tập sẽ giúp các em theo đuổi ước mơ của mình. Hoạt động học tập phải mang tính tự chủ gắn liền với việc giải quyết những vấn đề thực tế trong các tình huống xã hội. Từ ý tưởng học qua trải nghiệm của Dewey, Kilpatrick và các học giả khác, các nhà khoa học giáo dục đã tiếp tục phát triển hình thức DHTDA. Greeno (2006) – một học giả theo quan điểm của Thuyết Tạo Dựng đã đề cập đến học theo DA là "học theo tình huống".
“Với học theo DA, trẻ tương tác với các vấn đề thực và có ý nghĩa với chúng theo cùng một cách mà các nhà khoa học thường thực hiện. Trẻ được nghiên cứu các câu hỏi, đưa ra giả định và giải thích, thảo luận các ý tưởng và thử những sáng kiến mới”. "Các nghiên cứu đã cho thấy trẻ ở các lớp học theo DA có điểm số cao hơn trẻ học ở các lớp học truyền thống". Krajcik and Phyllis C.
Blumenfeld (2006)) Markham (2011) trong cuốn “Project Based Learning. Teacher Librarian” mô tả việc học theo DA như sau: "Học theo DA kết hợp giữa việc hiểu và việc trải nghiệm. Trẻ học các kiến thức và đạt được các mục tiêu của chương trình khung nhưng cũng áp dụng được cái mà chúng biết để giải quyết các vấn đề thực và tạo ra những kết quả đáng được ghi nhận. Trẻ học theo DA sử dụng công nghệ để tạo ra các SP hợp tác chất lượng cao.
Học theo DA tập trung việc giáo dục vào người học chứ không phải vào chương trình – đây là sự thay đổi mà thời đại toàn cầu đòi hỏi. Đổi lại, chúng ta sẽ nhận được những tài sản vô hình quý giá đó là động lực, đam mê, sự sáng tạo, sự cảm thông và sự phục hồi. Những điều này không thể được dạy ở trong bất cứ cuốn sách giáo khoa nào mà chỉ có thể được kích hoạt nhờ những trải nghiệm." [31] 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Cũng có những nghiên cứu về đánh giá trong phương pháp dạy học DA. trong tác phẩm „Assessment of problem based learning: students and classes” (1996) cho rằng “chỉ sử dụng phương pháp đánh giá truyền thống là không khả thi bởi chúng chỉ tập trung vào các kiến thức thực tế và các kỹ năng đơn lẻ”.
“Các bài kiểm tra viết truyền thống có thể được thực hiện bằng cách cho mở vở hoặc không. Các câu hỏi cần được thiết kế để đảm bảo các kỹ năng người học đạt được gần với các vấn đề hoặc môn học chính” [24]. Có thể đánh giá người học thông qua việc vẽ sơ đồ tư duy, đánh giá chéo giữa các học viên, tự đánh giá, giảng viên đánh giá, trình bày nói trước cả lớp hay với khán giả, viết các báo cáo. Helm và Katz đã phân tích, tổng hợp các cách thức triển khai hình thức DHTDA đối với những trẻ mầm non, đối tượng chưa biết đọc, viết hoặc mới bắt đầu phát triển các kỹ năng này.
Nghiên cứu của Helm và Katz cũng chỉ ra sự khác nhau giữa các hình thức học tập khác và hình thức DHTDA. “Kết quả của những trải nghiệm học của trẻ có tác dụng đến cả những năm sau đó. Trong bài báo “The Negotiated Project Approach: project- based Learning without leaving the Standards behind”, Sascha Mitchell cùng các đồng sự đã cho thấy “Mặc dù có những lợi ích của việc sử dụng hình thức học theo DA, các nhà giáo dục mầm non cũng đã ghi nhận một số thách thức đối với việc áp dụng hình thức dạy học này. Ví dụ, trong một nghiên cứu của Borko và Putnam (1996), rất nhiều GV đã miễn cưỡng sử dụng DHTDA mà muốn quay trở lại cách dạy học truyền thống.
Thậm chí những GV hứng thú với việc sử dụng hình thức DHTDA cũng bày tỏ những lo ngại về việc thiếu các định hướng cụ thể như sách hướng dẫn hoặc các kế hoạch giảng dạy có mục tiêu định hướng. Việc thiếu rõ ràng về cách lập kế hoạch cho các DA, hướng dẫn việc tìm hiểu và nghiên cứu của trẻ cũng như việc đánh giá quá trình học là những trở ngại chính trong việc áp dụng hình thức DHTDA, đặc biệt là với những GV mới (Clark 2006).