CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. Phôi thai học còn ống động mạch ÔĐM là mọt phần của cung động mạch chủ thứ 6, ở điểm ngoài ch xuất phát của ĐMP, thong thuờng ÔĐM ở ben phải teo đi sớm, chỉ còn ÔĐM ở ben trái tồn tại suốt thời kz thai nhi. Tuy nhien cũng có truờng hợp vẫn tồn tại ÔĐM ở ben phải, hoạc cả hai ben. [12] ÔĐM hình thành từ thời kz thứ 6 của phoi thai.
Lúc đầu ống chỉ là mọt đọng mạch bao gồm lớp co trung mạc đuợc ngan cách với nọi mạc bằng mọt màng chun nọi mạc và lớp duới nọi mạc rấtững mỏng. Trong quá trình phát triển của thai nhi, lớp nọi mạc dày len do hiẹn tuợng tang sinh nọi mạc. Đồng thời, các tế bào từ lớp co trung mạc xam lấn vào lớp duới nọi mạc, gay gián đoạn màng chun nọi mạc. Lớp co trung mạc của ÔĐM phát triển, phần lớn các sợi co xếp vòng quanh 3 chu vi ÔĐM, đạc biẹt ở lớp ngoài cùng của trung mạc.
Lớp co này phát triển trong thời kz thai nhi, đạc biẹt nhanh trong 3 tháng cuối thai kz và đuợc các tiểu đọng mạch đi tới nuoi duỡng. Đến cuối thời kz thai nhi, lớp nhầy mucoid phát triển ở lớp nọi mạc ÔĐM, chuẩn bị cho sự tự đóng ống sau khi sinh. Trong suốt thời kz thai nhi, do có lớp co rieng ở trung mạc và sự hoạt đọng của Prostaglandin 2 do bản than ÔĐM, rau thai và tĩnh mạch rốn tiết ra, đã giữ cho ÔĐM mở. Quá trình đóng ống động mạch và các yếu tố ảnh hưởng Sau khi sinh ÔĐM đóng qua 2 giai đoạn: + Giai đoạn ÔĐM co thắt: Ngay sau mọt vài nhịp thở đầu tien, phổi trẻ phồng len và chứa oxy, sự giảm sức cản mạch phổi đã làm tang nhanh chóng luu luợng máu len phổi.
Sự tách tuần hoàn rau thai ra khỏi tuần hoàn hẹ thống của trẻ làm tang dần sức cản mạch hẹ thống. Sự thay đổi này gay ra sự giảm ngay lạp tức luợng máu từ phải sang trái qua ÔĐM. Đồng thời do phân áp oxy trong máu tăng cao cùng với sự dầy lên của lớp dưới nội mạc (Tạo nhú nội mạc). ÔĐM co thắt gây ra tình trạng thiếu máu, oxy cho thành ống động mạch, đây là điều kiện quan trọng để khởi phát đóng ÔĐM giải phẫu.
+ Giai đoạn đóng ÔĐM giải phẫu: đặc trưng bởi sự thoái hoá và chết các tế bào cơ trơn và các tế bào nội mạc chuyển thành cấu trúc vĩnh viễn là dây chằng động mạch. Quá trình này thường hoàn thành trong vòng 2 – 3 tuần. Sự tồn tại ÔĐM sau sinh là một tình trạng bất thường, các nghiên cứu giải phẫu bệnh đã phân biệt 2 nhóm còn ống động mạch ở trẻ sơ sinh: + Bệnh còn ống động mạch ở trẻ sơ sinh non tháng: Tồn tại ống động mạch sau sinh ở trẻ đẻ non là do ống động mạch không trải qua tất cả các giai đoạn trưởng thành về mặt cấu trúc. Vì vậy quá trình đóng ống động mạch chức năng và giải phẫu sẽ không hoàn toàn trong vòng vài ngày sau đẻ hay còn gọi là chậm đóng ống động mạch.
Tỉ lệ mắc còn ống động mạch ở trẻ đẻ non tỉ lệ nghịch với tuổi thai và cân nặng lúc sinh. cụ thể ở 4 ngày tuổi, tỉ lẹ COĐM ở trẻ 30-37 tuần, 25-28 tuần và 24 tuần lần lượt là 10%, 80% và 90%. Đến ngày thứ 7 sau sinh, tỉ lẹ này vẫn còn khá cao ở trẻ duới 28 tuần, chiếm 65% trẻ 25-28 tuần và 87% ở trẻ 24 tuần tuổi. 4 Các nghiên cứu tổ chức học ở bào thai non tháng, trẻ sơ sinh non tháng và trẻ sơ sinh đủ tháng đã kết luận không thể tiên đoán rằng ống động mạch trưởng thành nhanh tại thời điểm ra đời của trẻ.
Các nghiên cứu cũng cho thấy mức độ trưởng thành về tổ chức học của ống động mạch không tương ứng một cách đặc hiệu với một giai đoạn trưởng thành nào của bào thai. Ở những trẻ sơ sinh rất non tháng, ống động mạch cũng có thể tạo ra các biến đổi tổ chức học (tạo nhú nội mạc, chết tế bào) tương đương như trẻ đủ tháng và làm đóng ống động mạch hoàn toàn. + Bệnh còn ống động mạch bẩm sinh ở nhóm trẻ đủ tháng: Ống động mạch ở trẻ đẻ đủ tháng và trẻ em có thể coi là các dị tật bẩm sinh nguyên phát của thành động mạch. Sự thay đổi cấu trúc của ống động mạch làm cho quá trình đóng ÔĐM sinh lý không xảy ra, lớp dưới nội mạc vẫn gắn chặt với lớp chun nội mạc.
Không có hiện tượng xâm nhập ngược của nội mạc và sự di cư của tế bào cơ trơn vào lớp dưới nội mạc. Sự chậm đóng của ống động mạch chưa trưởng thành ở trẻ sơ sinh non tháng cần được phân biệt với bất thường cấu trúc mạch. Điều này giải thích tại sao các thuốc ức chế tổng hợp Prostaglandins chỉ có tác dụng ở trẻ sinh non còn ÔĐM, mà không có nhiều tác dụng điều trị CÔĐM ở trẻ đủ tháng và trẻ lớn. Sinh lý bệnh còn ống động mạch Còn ống đọng mạch tạo nen sự thong thuong bất thuờng giữa tiểu tuần hoàn và đại tuần hoàn, cụ thể là luồng thong trái-phải khiến tang luu luợng tuần hoàn phổi, đồng thời đua đến sự tang thể tích thất trái cuối tam truong và làm giãn buồng thất trái, tang luu luợng tống máu tam thu, áp lực nhĩ trái và áp lực tĩnh mạch phổi tang.
Hạu quả sớm là tình trạng suy tim ứ huyết. Đến giai đoạn muọn, suy tim phải xuất hiẹn do tình trạng tăng áp lực ĐMP k o dài, bẹnh tiến triển đến suy tim toàn bọ. Shunt trái-phải của ÔĐM sẽ làm giảm luu luợng ĐMC từ đoạn eo trở xuống. Cuối cùng, với diễn biến tự nhien của bẹnh, shunt trái-phải dẫn đến bẹnh mạch máu phổi trầm trọng, áp lực ĐMP trở nen cao hon áp lực ĐMC, shunt đảo chiều phải-trái họi chứng insenmenger).
Khi đó khong còn chỉ định đóng ÔĐM nữa. inh ẹnh CÔĐM ở trẻ so sinh non tháng 5 Shunt qua ÔĐM ở trẻ đẻ non về co bản hầu hết từ trái sang phải. Kết quả là, tang luu luợng máu qua vòng tuần hoàn phổi và giảm luợng dịch của tuần hoàn hẹ thống. Nghien cứu đồng vị phóng xạ cho thấy luu luợng máu len phổi có thể lớn hon ba lần so với luu luợng hẹ thống.
Các biểu hiẹn lam sàng phụ thuọc vào kích thuớc của shunt, đáp ứng của tim, phổi và các co quan khác với shunt. nh huởng đến h i: Các nghien cứu tren thai nhi cho thấy luu luợng máu quá lớn qua ÔĐM sẽ làm gia tang áp lực thủy tĩnh và dịch lọc phổi trong mao mạch phổi, dẫn đến suy giảm chức nang phổi. Ở trẻ so sinh non tháng, mọt ÔĐM với shunt đáng kể sẽ làm tang nguy co phù phổi, xuất huyết phổi, loạn sản phế quản phổi và làm giảm chức nang phổi, suy hô hấp. Đóng ÔĐM sẽ cải thiẹn thong khí phổi.
nh huởng đến uu lu ng áu não hẹ thống Ở trẻ so sinh non tháng với mọt ÔĐM lớn sẽ gay tang cung luợng tang tim, nhung lại giảm luu luợng máu sau ống vì shunt trái - phải. Hạu quả của ống đọng mạch vừa và lớn là làm giảm vạn chuyển oxy và tuới máu đến các co quan quan trọng ở những trẻ so sinh còn ÔĐM so với những trẻ khong có ÔĐM. Shunt trái - phải trung bình hoạc lớn làm giảm luu luợng và oxy hóa máu não. Những thay đổi về luu luợng máu não và oxy hóa có thể góp phần vào viẹc tang nguy co xuất huyết não thất tren trẻ sinh non CÔĐM so với những trẻ khong có ÔĐM.
nh huởng tới hẹ tieu h : Viem ruọt hoại tử là mọt trong những bẹnh l{ nạng nhất ở trẻ so sinh non tháng với tỷ lẹ tử vong len tới 24% cùng với những di chứng não nạng nề. Giảm luu luợng tuới máu mạc treo ruọt là mọt trong những yếu tố sinh bẹnh học chính gay viêm ruột hoại tử. Ở trẻ so sinh non tháng CÔĐM có tốc đọ tuới máu tam thu, cuối tam truong của đọng mạch than tạng giảm rõ rẹt so với nhóm khong có ÔĐM. Tốc đọ tuới máu tam truong và chỉ số sức cản mạch của đọng mạch mạc treo tràng tren cải thiẹn rõ rẹt khi ÔĐM đóng.
Ở trẻ non tháng can nạng bằng hoạc duới 1000g, nhóm có điều trị mổ thắt ÔĐM trong vòng mọt ngày tuổi có tỉ lẹ viem ruọt hoại tử 8%) giảm có { nghĩa so với nhóm chứng khong mổ thắt ống 30%) [14]. Ảnh hưởng huyết áp hệ thống, chức năng thận: ỐĐM lớn làm giảm lưu lượng ĐMC sau ống, hạ huyết áp, một số trường hợp giảm tưới máu thận, có thể gây thiểu niệu. Giải phẫu ống động mạch. Đặc điểm chung 6 Vị trí OĐM: Là một ống nối giữa ĐMC xuống (dưới ch xuất phát của động mạch dưới đòn trái) với thân ĐMP (ngay gần ch xuất phát của ĐMP trái).
Rất ít gặp ÔĐM bên phải hoặc ÔĐM hai bên. ÔĐM thường có chiều dài chung từ 2-15 mm đường kính từ 3-15mm [15]. Trong nghiên cứu của Sathanandam 2020, ống động mạch có kích thước khá dài 10.2 mm ở nhóm cân nặng <2kg. Đường kính ống động mạch trung bình của nhóm này là 2.7 mm ở ch hẹp nhất và 4.6 mm ở ch rộng nhất [9] Hướng đi: từ phía đầu ĐMP ống động mạch đi sang trái, lên trên và ra sau để nối với ĐMC,khi chụp hình mạch máu góc chụp cần nghiêng trái 90 độ và nghiêng phải 30 độ để hình ảnh thẳng góc nhất, hạn chế sai sót trong khi đo kích thước OĐM.
Phân loại ống động mạch Hình thái và kích thước của ống động mạch được xác định bởi hình chụp mạch góc nghiêng trái 90 độ và phân loại dựa một phần theo phân loại cũ của Krichenko. Ống động mạch ở trẻ đẻ non thường có hình thái đặc biệt, không nằm trong 5 phân loại cũ từ A-E) của Krichenko, và được đưa vào nhóm mới riêng biệt gọi là type F [16] [9] • Type A: “hình nón”, đầu ĐMC nở rộng, co thắt gần đầu ĐMP • Type B: “cửa sổ”, rất lớn và ngắn • Type C: “hình ống”, không co thắt • Type D: “phức tạp”, co thắt nhiều ch • Type : “giãn dài”, co thắt ở đầu xa • Type F: “fetus” thường gặp ở trẻ đẻ non, đặc trưng là ống dài, kích thước lớn và ngoằn nghèo. Phân loại mới về ống động mạch [16] 1. Ống động mạch type F Ống động mạch type F thuôn nhỏ không đáng kể từ phía đầu ĐMC về đầu ĐMP, phân biệt nó với các type A,B, D và E.