Tổng quan nghiên cứu

Sốt xuất huyết Dengue là một trong những bệnh truyền nhiễm cấp tính nguy hiểm hàng đầu thế giới với tốc độ lan truyền nhanh chóng. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới, số ca mắc sốt xuất huyết toàn cầu đã tăng hơn 400% trong hai thập kỷ qua, đe dọa trực tiếp sức khỏe cộng đồng tại hơn 128 quốc gia nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Việt Nam, dịch bệnh diễn biến phức tạp quanh năm, trong đó tỉnh Bình Định luôn nằm trong nhóm 10 địa phương có số ca mắc cao nhất cả nước. Riêng trong 6 tháng đầu năm 2022, toàn tỉnh Bình Định đã ghi nhận 4.138 ca mắc, tăng 63,9% so với cùng kỳ năm 2021, với hơn 2.700 trường hợp là trẻ em dưới 15 tuổi.

Vấn đề cốt lõi hiện nay là bệnh chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, do đó kiểm soát và giám sát véc tơ truyền bệnh là biện pháp phòng chống chủ động quan trọng nhất. Phương pháp giám sát truyền thống bằng ống tuýp thủy tinh bắt muỗi thủ công bộc lộ nhiều hạn chế do phụ thuộc lớn vào kỹ năng của điều tra viên, dẫn đến chỉ số mật độ muỗi thiếu chuẩn xác.

Luận văn thạc sĩ sinh học thực nghiệm của tác giả Võ Thị Phương Nhi dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Xuân Quang tập trung đánh giá hiệu quả của bẫy Gravid Aedes Trap trong việc thu thập hai loài véc tơ chính là Aedes aegypti và Aedes albopictus. Nghiên cứu được thực hiện tại 100 hộ gia đình thuộc 5 khu vực của phường Nhơn Hòa, thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định từ tháng 12/2021 đến tháng 08/2022. Kết quả mang lại ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi cung cấp giải pháp giám sát thụ động không dùng điện, đạt tỷ lệ thu thập muỗi cái mang mầm bệnh trên 80%, làm cơ sở dữ liệu tin cậy để nâng cao năng lực cảnh báo sớm dịch bệnh tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết dịch tễ học Arbovirus và sinh thái học côn trùng học y học. Virus Dengue thuộc chi Flavivirus, họ Flaviviridae, lưu hành với 4 type huyết thanh kháng nguyên từ DEN-1 đến DEN-4. Quá trình truyền bệnh phụ thuộc hoàn toàn vào hai loài véc tơ sinh học trung gian là muỗi Aedes aegypti và Aedes albopictus. Vòng đời của muỗi Aedes trải qua 4 giai đoạn gồm trứng, bọ gậy, lăng quăng và muỗi trưởng thành kéo dài từ 15 đến 20 ngày, trong đó tỷ lệ sống sót tự nhiên từ trứng đến trưởng thành đạt khoảng 59,7%.

Khung nghiên cứu vận dụng sâu sắc tập tính sinh sản của muỗi Aedes cái mang trứng để vận hành bẫy Gravid Aedes Trap. Khác với muỗi đực chỉ hút mật hoa, muỗi cái sau khi hút máu người sẽ tìm kiếm các vùng nước đọng có bóng tối để đẻ trứng. Bẫy Gravid Aedes Trap tận dụng cơ chế kích thích thị giác thông qua buồng chứa màu đen kết hợp độ ẩm từ nước sạch để thu hút muỗi cái vào đẻ trứng. Bẫy sử dụng màng lưới tẩm hóa chất thuộc nhóm Pyrethroid hoặc dầu thực vật, làm tê liệt hệ thần kinh của muỗi và tiêu diệt chúng trong vòng 3 đến 15 phút. Ba khái niệm then chốt được chuẩn hóa gồm: bẫy Gravid Aedes Trap giám sát véc tơ thụ động, chỉ số mật độ muỗi cái trung bình trên hộ gia đình và tỷ lệ nhạy thu thập véc tơ theo vị trí không gian.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp khảo sát phỏng vấn cộng đồng. Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95%, hệ số z bằng 1,96, sai số tuyệt đối chấp nhận được d bằng 0,06 và tỷ lệ dự kiến p bằng 0,1. Kết quả tính toán cho ra cỡ mẫu 96 hộ, được làm tròn lên 100 hộ gia đình nhằm dự phòng sai số do vắng mặt. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn thông qua phần mềm Microsoft Excel được thực hiện từ danh sách hộ dân tại 5 khu vực dân cư của phường Nhơn Hòa gồm An Lộc, Huỳnh Kim, Hòa Nghi, Long Quang và Phú Sơn.

Thí nghiệm thực địa được chia thành 5 đợt liên tục từ tháng 2/2022 đến tháng 6/2022. Mỗi đợt triển khai 20 bẫy tại 20 hộ gia đình khác nhau, phân bổ đồng đều 4 bẫy mỗi khu vực với tỷ lệ 10 bẫy trong nhà và 10 bẫy ngoài nhà. Thời gian theo dõi mỗi bẫy kéo dài 20 ngày, tiến hành kiểm tra và thu mẫu định kỳ 4 ngày một lần tương ứng với 5 lần thu mẫu mỗi đợt. Muỗi thu thập được định loại hình thái học trực tiếp tại thực địa dựa theo khóa định loại côn trùng chuẩn của Bộ Y tế và Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn. Dữ liệu dịch tễ và phản hồi của người dân được làm sạch, xử lý và phân tích thống kê trên phần mềm Stata và Microsoft Excel nhằm đảm bảo tính khách quan và độ chính xác cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực địa qua 5 đợt đặt bẫy Gravid Aedes Trap tại 100 hộ gia đình đã ghi nhận tổng cộng 2.067 cá thể muỗi thuộc 3 giống Aedes, Culex và Anopheles. Trong đó, hai loài véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết thuộc giống Aedes chiếm ưu thế áp đảo với 1.825 cá thể, tương đương 88,3% tổng số muỗi thu thập được. Loài Aedes aegypti chiếm số lượng cao nhất với 1.168 cá thể, chiếm tỷ lệ 64,0% tổng số muỗi Aedes, trong khi loài Aedes albopictus ghi nhận 657 cá thể, chiếm 36,0%.

Hiệu quả chọn lọc của bẫy Gravid Aedes Trap đối với muỗi cái mang mầm bệnh đạt mức vượt trội. Tỷ lệ muỗi Aedes cái thu được duy trì ổn định ở mức rất cao qua tất cả các đợt nghiên cứu: đợt 1 đạt 83,6% với 240 cá thể cái trên 287 muỗi Aedes; đợt 2 đạt 82,4% với 271 cá thể cái; đợt 3 đạt 78,0% với 276 cá thể cái; đợt 4 đạt 81,9% với 399 cá thể cái và đợt 5 đạt 81,5% với 300 cá thể cái. Trung bình cứ 4 đến 6 ngày sau khi đặt, bẫy đã bắt đầu thu nhận những cá thể muỗi đầu tiên.

Nghiên cứu phát hiện sự phân hóa sinh thái rõ nét theo không gian đặt bẫy. Bẫy đặt trong nhà thu được 1.139 cá thể muỗi, trong đó Aedes aegypti chiếm tỷ lệ áp đảo 75,5% với 860 cá thể, Aedes albopictus chỉ chiếm 11,8% với 134 cá thể. Ngược lại, bẫy đặt ngoài nhà thu nhận 928 cá thể muỗi nhưng loài Aedes albopictus lại chiếm ưu thế với 56,4% tương ứng 523 cá thể, trong khi Aedes aegypti chỉ chiếm 33,2% với 308 cá thể. Về mặt địa bàn, số lượng muỗi tập trung cao nhất tại khu vực Huỳnh Kim với 480 cá thể và Hòa Nghi với 479 cá thể, tiếp theo là Long Quang 408 cá thể, Phú Sơn 365 cá thể và thấp nhất tại An Lộc với 335 cá thể. Mật độ muỗi đạt đỉnh vào đợt 4 trong tháng 5/2022 với 487 cá thể Aedes.

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về mật độ và cơ cấu thành phần loài giữa các khu vực nghiên cứu phản ánh trực tiếp mối liên hệ giữa điều kiện vi khí hậu, địa hình và mật độ dân cư. Khu vực Huỳnh Kim và Hòa Nghi ghi nhận số lượng véc tơ cao nhất do địa hình trũng thấp ven lưu vực sông Côn, mật độ dân cư đông đúc và hoạt động thương mại nông nghiệp phát triển, tạo nhiều điểm đọng nước lý tưởng cho muỗi sinh sản trong mùa khô. Ngược lại, khu vực An Lộc có địa hình cao ráo, dân cư phân tán nên số lượng véc tơ thu thập được thấp hơn 30,2% so với Huỳnh Kim.

Sự phân bố vượt trội của Aedes aegypti trong nhà và Aedes albopictus ngoài vườn cây hoàn toàn phù hợp với đặc tính sinh học của từng loài. Aedes aegypti có tập tính ưa sống gần con người, trú đậu tại các góc tối trong phòng ngủ, phòng khách; trong khi Aedes albopictus ưa thích sinh cảnh tự nhiên, bụi rậm và các dụng cụ chứa nước ngoài trời. Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự tại thành phố Nha Trang và tỉnh Đồng Nai, bẫy Gravid Aedes Trap chứng minh hiệu quả bắt giữ muỗi cái Aedes cao gấp từ 1,5 đến 4,6 lần so với phương pháp máy hút cầm tay truyền thống, đồng thời ghi nhận số lượng Aedes aegypti cao hơn đáng kể so với các khảo sát tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

Toàn bộ các biến động số lượng véc tơ theo thời gian và không gian trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện tỷ lệ loài theo từng đợt giám sát, kết hợp biểu đồ tròn phân lớp biểu diễn cơ cấu thành phần loài giữa không gian trong nhà và ngoài nhà. Cách trình bày này giúp các nhà quản lý y tế dự phòng dễ dàng nhận diện ổ dịch tiềm ẩn và triển khai các biện pháp can thiệp đúng trọng tâm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh sốt xuất huyết Dengue dựa trên kết quả nghiên cứu thực nghiệm, bốn nhóm giải pháp hành động cụ thể được đề xuất:

  1. Triển khai chuẩn hóa và đưa bẫy Gravid Aedes Trap vào quy trình giám sát dịch tễ định kỳ: Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật tỉnh Bình Định phối hợp Trung tâm Y tế thị xã An Nhơn trang bị hệ thống bẫy chuẩn cho 100% trạm y tế xã, phường trước quý I/2023. Thay thế dần phương pháp bắt muỗi thủ công bằng mạng lưới bẫy thụ động tại các điểm nóng dịch bệnh, duy trì chu kỳ kiểm tra 4 ngày một lần để cập nhật số liệu mật độ muỗi liên tục.

  2. Phân tầng không gian can thiệp theo đặc điểm sinh thái của từng loài véc tơ: Trạm Y tế phường Nhơn Hòa và đội ngũ cộng tác viên y tế thôn bản hướng dẫn người dân đặt bẫy trong nhà tại các phòng khách, phòng ngủ dưới gầm bàn ghế để bẫy Aedes aegypti, đồng thời bố trí bẫy ngoài sân vườn, bụi cây để triệt tiêu Aedes albopictus. Target metric cần đạt là giảm chỉ số mật độ muỗi cái trung bình xuống dưới mức 0,5 con trên một hộ gia đình trong giai đoạn cao điểm từ tháng 3 đến tháng 8 hàng năm.

  3. Đẩy mạnh xã hội hóa mô hình bẫy Gravid Aedes Trap không hóa chất độc hại: Ủy ban nhân dân thị xã An Nhơn chỉ đạo Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phát động phong trào tự quản, hướng dẫn các hộ gia đình tự châm nước, vệ sinh và duy trì bẫy an toàn với phụ gia dầu thực vật trong quý II đến quý IV/2023. Mục tiêu đạt trên 90% hộ gia đình cam kết tham gia duy trì bẫy liên tục tại khu dân cư.

  4. Xây dựng ngưỡng cảnh báo sớm và dự báo dịch dựa trên chỉ số bẫy Gravid Aedes Trap: Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn chủ trì đề tài nghiên cứu chuyển đổi chỉ số mật độ muỗi thu được từ bẫy sang ngưỡng cảnh báo nguy cơ bùng phát dịch trong vòng 12 tháng. Khi mật độ muỗi Aedes cái vượt ngưỡng 1,0 con trên một bẫy trong một chu kỳ theo dõi, hệ thống y tế cơ sở sẽ lập tức kích hoạt chiến dịch diệt lăng quăng và phun hóa chất xử lý ổ dịch diện rộng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cán bộ y tế dự phòng và kiểm soát côn trùng tại các Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng, Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật các tỉnh: Sử dụng dữ liệu thực chứng từ 100 hộ gia đình để xây dựng cẩm nang kỹ thuật, chuyển đổi phương pháp giám sát véc tơ từ thủ công sang tự động hóa không dùng điện, nâng tỷ lệ bắt muỗi cái lên trên 80%.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu chuyên ngành Sinh học thực nghiệm, Y sinh học, Côn trùng học: Khảo cứu phương pháp luận tính cỡ mẫu chuẩn cho nghiên cứu cắt ngang, kỹ thuật vận hành bẫy thực địa và phương pháp xử lý số liệu sinh thái học côn trùng bằng phần mềm thống kê chuyên dụng.
  • Nhà quản lý y tế công cộng và cơ quan hoạch định chính sách cấp huyện, tỉnh: Tham khảo mô hình phân tích chi phí - hiệu quả của bẫy Gravid Aedes Trap nhằm tối ưu hóa nguồn ngân sách phòng chống dịch bệnh, xây dựng kế hoạch phân bổ nguồn lực y tế dự phòng chính xác trước mùa mưa lũ.
  • Giảng viên và sinh viên các trường đại học khối ngành Khoa học Tự nhiên, Y học Dự phòng và Sức khỏe Môi trường: Dùng làm tài liệu học tập tham khảo thực tế về dịch tễ học sốt xuất huyết Dengue, kỹ thuật định loại véc tơ Aedes aegypti và Aedes albopictus, cùng phương pháp triển khai can thiệp cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Bẫy Gravid Aedes Trap hoạt động theo nguyên lý nào để thu hút muỗi truyền bệnh?

Bẫy hoạt động hoàn toàn dựa vào tập tính sinh học của muỗi Aedes cái mang trứng. Bẫy sử dụng buồng tối màu đen chứa khoảng 3 lít nước sạch để mô phỏng ổ đẻ tự nhiên. Khi muỗi cái bay vào qua phễu trong suốt để đẻ trứng, chúng sẽ tiếp xúc với màng lưới tẩm hóa chất Pyrethroid hoặc dầu và bị tiêu diệt trong vòng 3 đến 15 phút mà không cần dùng điện hay hóa chất mùi độc hại.

Tại sao muỗi Aedes aegypti lại chiếm tỷ lệ thu thập cao vượt trội ở bẫy đặt trong nhà?

Aedes aegypti là loài muỗi thuần dưỡng có tập tính sinh thái gắn liền với môi trường sống của con người. Chúng ưa thích trú đậu tại các góc tối, kẽ tủ, gầm bàn ghế trong nhà và hút máu người vào ban ngày. Kết quả nghiên cứu tại 100 hộ gia đình cho thấy Aedes aegypti chiếm tới 75,5% tổng số muỗi bắt được trong nhà, cao gấp 6,4 lần so với loài Aedes albopictus.

Bẫy Gravid Aedes Trap có ưu điểm gì vượt trội so với các loại bẫy truyền thống khác?

So với bẫy đèn CDC hoặc máy hút muỗi cầm tay, bẫy Gravid Aedes Trap không cần sử dụng nguồn điện hay pin 6V, cấu tạo đơn giản, chi phí sản xuất thấp và rất dễ di chuyển. Bẫy có khả năng thu bắt liên tục 24/24 giờ mà không phụ thuộc vào kỹ năng bắt muỗi của con người, đồng thời an toàn tuyệt đối cho trẻ nhỏ và vật nuôi trong gia đình.

Vì sao nghiên cứu lại chọn chu kỳ thu mẫu 4 ngày một lần trong thời gian 20 ngày?

Vòng đời trưởng thành của muỗi Aedes cái kéo dài từ 20 đến 40 ngày và chu kỳ sinh sản, tiêu hóa máu đẻ trứng diễn ra từ 3 đến 5 ngày. Việc đặt bẫy trong 20 ngày với chu kỳ thu mẫu 4 ngày một lần vừa khớp với nhịp sinh học đẻ trứng của muỗi cái, vừa ngăn ngừa nguy cơ bọ gậy nở thành muỗi mới bên trong bẫy nếu nước bị nhiễm bẩn.

Người dân tại địa bàn nghiên cứu đánh giá thế nào về việc triển khai đặt bẫy tại gia đình?

Khảo sát phỏng vấn đại diện 100 hộ gia đình tại 5 khu vực của phường Nhơn Hòa cho thấy cộng đồng có mức độ chấp nhận rất cao. 100% hộ dân được khảo sát đồng ý phối hợp cho đặt bẫy trong nhà và ngoài vườn, đánh giá bẫy gọn gàng, không gây mùi khó chịu, không cản trở sinh hoạt và thể hiện mong muốn duy trì bẫy lâu dài để phòng chống sốt xuất huyết.

Kết luận

Nghiên cứu thực nghiệm của luận văn đã cung cấp những luận cứ khoa học vững chắc và giải pháp thực tiễn có giá trị cao trong công tác phòng chống sốt xuất huyết Dengue:

  • Khẳng định bẫy Gravid Aedes Trap là công cụ giám sát thụ động có độ nhạy vượt trội, thu thập thành công 2.067 cá thể muỗi với 1.825 muỗi Aedes, trong đó tỷ lệ muỗi cái mang mầm bệnh đạt bình quân trên 81,8%.
  • Xác định rõ cơ cấu phân bố sinh thái học véc tơ với Aedes aegypti chiếm 75,5% trong nhà và Aedes albopictus chiếm 56,4% ngoài nhà, hỗ trợ đắc lực cho việc định vị không gian can thiệp diệt muỗi.
  • Phát hiện quy luật biến động mật độ véc tơ theo mùa, ghi nhận đỉnh dịch muỗi vào tháng 5/2022 tại các khu vực trũng thấp ven sông như Huỳnh Kim và Hòa Nghi.
  • Minh chứng tính khả thi và mức độ đồng thuận tuyệt đối của 100 hộ gia đình tại phường Nhơn Hòa đối với việc ứng dụng bẫy tại cộng đồng.
  • Đóng góp vào chương trình mục tiêu y tế quốc gia một phương pháp giám sát véc tơ chuẩn xác, chi phí thấp và an toàn sinh thái.

Giai đoạn 2023 - 2024, các địa phương cần nhanh chóng nhân rộng mô hình bẫy Gravid Aedes Trap trên toàn địa bàn tỉnh Bình Định và khu vực duyên hải miền Trung. Các nhà nghiên cứu và cơ quan y tế hãy chủ động ứng dụng ngay giải pháp giám sát tiên tiến này nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng và ngăn chặn hiệu quả nguy cơ bùng phát dịch bệnh sốt xuất huyết Dengue.