Tổng quan luận án

Sốt xuất huyết Dengue (SXHD) là bệnh truyền nhiễm cấp tính do vi rút Dengue gây ra và muỗi Aedes aegypti đóng vai trò là véc tơ truyền bệnh chính. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trước năm 1970 chỉ có 9 quốc gia ghi nhận dịch SXHD, nhưng đến năm 1995 số lượng này đã tăng gấp 4 lần và hiện diện tại hơn 100 quốc gia thuộc khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới. Tại Việt Nam, dịch lưu hành tại cả bốn khu vực Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên. Mặc dù Chương trình phòng, chống sốt xuất huyết quốc gia đã được triển khai từ năm 1999, tình hình dịch bệnh vẫn diễn biến phức tạp, tỷ lệ mắc có xu hướng gia tăng từ 32,5/100.000 dân năm 2000 lên mức cao hơn ở các giai đoạn sau.

Khu vực Tây Nguyên mang đặc thù sinh thái riêng biệt với sự phân bố của hai loài muỗi Aedes aegyptiAedes albopictus. Lịch sử dịch tễ ghi nhận các vụ dịch lớn vào các năm 1983, 1987, 1988, 1991, 1995, 1998 và 2004 với tỷ lệ mắc dao động từ 54,80 đến 553,38/100.000 dân và tỷ lệ tử vong từ 0,08 đến 1,34/100.000 dân. Tuy nhiên, trước thời điểm nghiên cứu, tại khu vực Tây Nguyên chưa có công trình nào đánh giá toàn diện, dài hạn về các yếu tố dịch tễ học bệnh SXHD, cũng như chưa xây dựng được mô hình can thiệp dựa vào cộng đồng có tính bền vững.

Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Ngô Thị Hải Vân đã thực hiện luận án tiến sĩ y học với đề tài: "Thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue và đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp dựa vào cộng đồng ở Tây Nguyên (2005 - 2014)" thuộc chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và Tổ chức Y tế (mã số 62 72 01 64) tại Học viện Quân y, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đặng Tuấn Đạt và PGS.TS. Lê Văn Bào.

Luận án tập trung trả lời 5 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  1. Thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue ở Tây Nguyên diễn biến như thế nào, có tính chất đặc thù riêng hay không?
  2. Bệnh dịch sốt xuất huyết Dengue ở khu vực Tây Nguyên có chu kỳ hay không?
  3. Có bao nhiêu type vi rút Dengue xuất hiện và lưu hành tại Tây Nguyên, phân bố theo không gian và thời gian ra sao?
  4. Véc tơ truyền bệnh dịch sốt xuất huyết Dengue chính tại Tây Nguyên là loài nào?
  5. Mô hình phòng chống nào đạt hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương?

Mục tiêu nghiên cứu được xác định rõ ràng gồm 2 nội dung:

  1. Mô tả thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue và một số yếu tố liên quan ở 4 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2005 - 2014.
  2. Đánh giá hiệu quả mô hình phòng chống sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng ở phường Tân Tiến, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giai đoạn 2013 - 2014.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Phạm vi không gian: 4 tỉnh Tây Nguyên gồm Đắk Lắk, Gia Lai, Kon Tum và Đắk Nông đối với Mục tiêu 1; phường Tân Tiến (can thiệp) và phường Thành Công (đối chứng) thuộc thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk đối với Mục tiêu 2.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và hồi cứu số liệu dịch tễ, véc tơ, vi rút học giai đoạn 2005 - 2014; triển khai mô hình can thiệp cộng đồng từ tháng 01/2013 đến tháng 10/2014.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp bức tranh dịch tễ học và các chiến lược phòng chống SXHD trên phạm vi toàn cầu, tại Việt Nam và khu vực Tây Nguyên:

Về tình hình thế giới và khu vực:

  • Bệnh có nguồn gốc ghi nhận từ năm 992 sau Công nguyên tại Trung Quốc, xuất hiện ở Tây Ấn Độ năm 1635, Philadelphia năm 1870. Vụ dịch đầu tiên có tác nhân rõ ràng ghi nhận tại Úc (1897), Hy Lạp (1928), Đài Loan (1931) và khẳng định dịch SXHD tại Philippines (1953 - 1954).
  • Theo báo cáo của WHO (2013), giai đoạn 2004 - 2010, ba quốc gia có số ca mắc trung bình cao nhất thế giới lần lượt là Brazil (447.000 ca), Indonesia (129.435 ca) và Việt Nam (91.000 ca). Tại khu vực Tây Thái Bình Dương, năm 2012 ghi nhận 356.838 ca mắc và 1.248 ca tử vong.

Về tình hình tại Việt Nam:

  • Chu Văn Tường và cộng sự ghi nhận vụ dịch đầu tiên ở miền Bắc năm 1958 tại Hà Nội; miền Nam ghi nhận năm 1960. Hai đỉnh dịch lớn nhất toàn quốc xảy ra vào năm 1987 (354.517 ca mắc, 1.566 ca tử vong) và năm 1998 (234.929 ca mắc, 337 ca tử vong).
  • Tại miền Nam, các nghiên cứu của Hạ Bá Khiêm (1993), Lương Chấn Quang và cộng sự (2015) chỉ ra sự lưu hành của cả 4 type huyết thanh vi rút Dengue, trong đó giai đoạn 1999 - 2005 vi rút DEN-2 chiếm ưu thế, từ năm 2007 trở đi DEN-1 và DEN-4 chiếm ưu thế.
  • Tại miền Bắc, giai đoạn 2000 - 2014 ghi nhận trung bình 3.843 ca/năm, đỉnh dịch năm 2009 ghi nhận 18.485 ca mắc tại 17/28 tỉnh thành.

Về tình hình tại Tây Nguyên qua các giai đoạn trước:

  • Giai đoạn 1983 - 1988: Dịch lớn xảy ra các năm 1983, 1987, 1988, bệnh nhân chủ yếu là trẻ dưới 15 tuổi (61,54%).
  • Giai đoạn 1989 - 2004: Theo số liệu của Viện Vệ sinh dịch tễ Tây Nguyên (2004), dịch đạt đỉnh năm 1998 với 553,38 ca mắc/100.000 dân. Tỷ lệ phân lập vi rút biến động theo từng năm.
Năm phân lập Số mẫu xét nghiệm Type D1 Type D2 Type D3 Type D4 Tỷ lệ dương tính (%)
1998 80 7 -- 33 -- 50,0
1999 50 1 -- -- -- 2,0
2000 50 1 -- -- -- 2,0
2001 49 3 1 1 1 12,2
2002 160 1 12 -- -- 8,1
2003 80 -- 4 1 -- 6,3
2004 245 54 13 -- -- 27,3

Về các nghiên cứu mô hình can thiệp phòng chống véc tơ:

  • Quốc tế: Các mô hình tại Cuba (1981), Mexico (2011), Thái Lan, Puerto Rico, Malaysia, Đài Loan (1989 - 1996), Campuchia (1999 - 2000) đều chứng minh hiệu quả của truyền thông giáo dục, quản lý môi trường và huy động xã hội.
  • Trong nước: Các nghiên cứu sử dụng sinh vật ăn bọ gậy của Trần Đắc Phu (2001) về loài Mesocyclops pehpeiensis (tiêu diệt 41,6 bọ gậy/24 giờ) và Mesocyclops affinis (21,7 bọ gậy/24 giờ); Vũ Sinh Nam (1989 - 1998) tại Hải Hưng; mô hình thả cá bảy màu tại Giá Rai - Bạc Liêu. Các dự án can thiệp cộng đồng của Bộ Y tế phối hợp với Tổ chức AFAP (Úc) qua 3 giai đoạn: Giai đoạn I (1998 - 1999) tại miền Bắc, Giai đoạn II (2000 - 2003) tại miền Trung, Giai đoạn III (2004 - 2007) tại đồng bằng sông Cửu Long.
  • Tại Tây Nguyên: Các thử nghiệm của Đặng Tuấn Đạt và cộng sự (1994), Phạm Công Tiến và cộng sự (1997, 1999) về cá bảy màu và Mesocyclops; nghiên cứu của Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên (2007 - 2008). Tuy nhiên, các hoạt động chống dịch tại địa phương trước đây chủ yếu mang tính thụ động khi dịch đã bùng phát, thiếu tính chủ động và bền vững.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết: Cung cấp bộ dữ liệu hệ thống trong 10 năm (2005 - 2014) về thực trạng ca bệnh, sự phân bố của 4 type vi rút Dengue, đặc điểm véc tơ và mối liên quan với yếu tố khí hậu (nhiệt độ, lượng mưa) tại 4 tỉnh Tây Nguyên; đồng thời thiết lập, đánh giá mô hình can thiệp chủ động dựa vào cộng đồng kết hợp thả cá bảy màu, vệ sinh môi trường và mạng lưới cộng tác viên (CTV) tại địa bàn đô thị Tây Nguyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khái niệm và chỉ số dịch tễ học sử dụng

Luận án áp dụng các hướng dẫn chuyên môn và định nghĩa chuẩn của Bộ Y tế:

  • Định nghĩa ca bệnh lâm sàng, ca bệnh xác định bằng xét nghiệm (MAC-ELISA, RT-PCR, phân lập vi rút), phân loại mức độ bệnh theo Quyết định số 794/QĐ-BYT (2009) và Quyết định số 458/QĐ-BYT (2011).
  • Định nghĩa ổ dịch SXHD và tiêu chí chấm dứt ổ dịch (không xuất hiện ca mới trong 14 ngày).
  • Các chỉ số giám sát véc tơ:
    • Chỉ số mật độ muỗi (Density Index - DI): Số muỗi cái Aedes aegypti trung bình/nhà.
    • Chỉ số nhà có muỗi/bọ gậy (House Index - HI): Tỷ lệ % nhà có muỗi hoặc bọ gậy.
    • Chỉ số dụng cụ chứa nước có bọ gậy (Container Index - CI): Tỷ lệ % dụng cụ chứa nước (DCCN) có bọ gậy.
    • Chỉ số Breteau (Breteau Index - BI): Số DCCN có bọ gậy Aedes trong 100 nhà điều tra.
    • Chỉ số mật độ bọ gậy (CSMĐBG): Số lượng bọ gậy trung bình/hộ gia đình.
  • Ngưỡng cảnh báo dịch: DI > 0,5 con/nhà; HI > 10%; BI > 20 (khu vực miền Bắc) hoặc BI > 50 (khu vực miền Nam).

Phương pháp nghiên cứu cho Mục tiêu 1

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu số liệu giai đoạn 2005 - 2014.
  • Đối tượng và nguồn dữ liệu:
    • Toàn bộ báo cáo ca bệnh mắc, tử vong, kết quả xét nghiệm huyết thanh học và phân lập vi rút thực hiện tại Khoa Vi rút - Viện Vệ sinh Dịch tễ Tây Nguyên.
    • Báo cáo giám sát véc tơ hàng tháng của Dự án phòng chống SXHD khu vực Tây Nguyên.
    • Số liệu nhiệt độ trung bình và lượng mưa từ Niên giám thống kê của 4 tỉnh (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông).
  • Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phần mềm ArcGIS để xây dựng bản đồ phân bố số ca mắc/100.000 dân; phân tích tương quan giữa nhiệt độ, lượng mưa với chỉ số DI, BI và số ca mắc.

Phương pháp nghiên cứu cho Mục tiêu 2

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng, kết hợp phương pháp định lượng và định tính.
  • Địa bàn: Phường Tân Tiến (nhóm can thiệp) và Phường Thành Công (nhóm đối chứng), thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Thời gian từ tháng 01/2013 đến tháng 10/2014.
  • Phương pháp chọn mẫu định lượng (điều tra KAP hộ gia đình): Công thức tính cỡ mẫu so sánh hai tỷ lệ trong nghiên cứu can thiệp: $$n = \frac{\left[z_{1-\alpha/2}\sqrt{2\bar{p}(1-\bar{p})} + z_{1-\beta}\sqrt{p_1(1-p_1) + p_2(1-p_2)}\right]^2}{(p_1 - p_2)^2}$$ Trong đó: mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$ ($z_{1-\alpha/2} = 1,96$); lực mẫu $1-\beta = 0,95$ ($z_{1-\beta} = 1,645$). Tỷ lệ thực hành đúng trước can thiệp lấy theo nghiên cứu năm 2012 của tác giả Ngô Thị Hải Vân tại Buôn Ma Thuột là $p_1 = 27%$ (0,27); tỷ lệ kỳ vọng sau can thiệp tăng 1,5 lần đạt $p_2 = 40,5%$ (0,405). Cỡ mẫu tính toán lý thuyết là 315 hộ gia đình/nhóm. Khảo sát thực tế tại phường can thiệp: Lần 1 (tháng 01/2013) điều tra 403 hộ; Lần 2 (tháng 10/2013) điều tra 399 hộ.
  • Phương pháp định tính: Phỏng vấn sâu lãnh đạo UBND phường, Trưởng trạm Y tế, CTV chuyên trách; thảo luận nhóm giữa CTV và đại diện người dân.
  • Hoạt động can thiệp triển khai:
    • Thành lập Ban chỉ đạo phòng chống dịch phường và kiện toàn mạng lưới CTV.
    • Tổ chức tập huấn chuyên môn cho Ban chỉ đạo và CTV.
    • Thực hiện truyền thông - giáo dục sức khỏe, CTV vãng gia định kỳ.
    • Tổ chức chiến dịch vệ sinh môi trường (VSMT), thu gom dụng cụ phế thải (DCPT).
    • Tổ chức chiến dịch thả cá bảy màu vào các DCCN sinh hoạt.
    • Giám sát định kỳ hàng tháng chỉ số véc tơ (DI, BI) và số ca mắc bệnh tại cả hai phường.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: TỔNG QUAN

Chương này hệ thống hóa các cơ sở lý luận về bệnh học, dịch tễ học SXHD, đặc điểm vi rút học họ Flaviviridae với 4 type huyết thanh (DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4) và cơ chế miễn dịch chéo ngắn hạn. Trình bày chi tiết đặc tính sinh học của muỗi Aedes aegypti: chu kỳ phát triển 4 giai đoạn, đặc điểm hình thái có khoang đen trắng và vẩy bạc hình đàn Lia trên lưng ngực, tập tính trú đậu trên đồ vải trong nhà (73,52% trên quần áo) và sinh sản trong DCCN nước sạch. Chương 1 cũng phân tích lịch sử dịch bệnh toàn cầu, tại Việt Nam và khu vực Tây Nguyên từ năm 1983 đến 2004; đồng thời điểm luận các mô hình can thiệp kiểm soát véc tơ dựa vào cộng đồng và tác nhân sinh học (Mesocyclops, cá bảy màu) trong và ngoài nước.

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương 2 mô tả chi tiết phương pháp tiếp cận hai mục tiêu nghiên cứu. Mục tiêu 1 thiết kế theo phương pháp mô tả cắt ngang hồi cứu 10 năm (2005 - 2014) trên địa bàn 4 tỉnh Tây Nguyên. Mục tiêu 2 thiết kế theo phương pháp can thiệp cộng đồng có so sánh đối chứng tại phường Tân Tiến và phường Thành Công (TP. Buôn Ma Thuột) giai đoạn 2013 - 2014. Tác giả trình bày chi tiết công thức tính cỡ mẫu, tiêu chí lựa chọn và loại trừ đối tượng phỏng vấn, quy trình thu thập dữ liệu dịch tễ, kỹ thuật giám sát véc tơ, các biện pháp kiểm soát sai số, đạo đức trong nghiên cứu y sinh học và phương pháp quản lý, phân tích số liệu dịch tễ học và phần mềm ArcGIS.

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Chương kết quả thể hiện các dữ liệu thực nghiệm và thống kê qua 34 bảng số liệu và 17 biểu đồ:

  • Dịch tễ học bệnh nhân SXHD (2005 - 2014): Phân bố số ca mắc và tử vong theo năm, theo tháng, theo tuần dịch, theo nhóm tuổi, giới tính, dân tộc và thể lâm sàng tại 4 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông; bản đồ hóa tỷ lệ mắc/100.000 dân.
  • Vi rút học và huyết thanh học: Tỷ lệ dương tính qua xét nghiệm MAC-ELISA và phân lập vi rút; phân bố tỷ lệ 4 type huyết thanh DEN-1, DEN-2, DEN-3, DEN-4 tại từng tỉnh qua các năm.
  • Giám sát côn trùng và phân tích tương quan: Chỉ số mật độ muỗi (DI), chỉ số Breteau (BI) trung bình theo tháng; tỷ lệ tập trung bọ gậy theo từng loại DCCN tại TP. Kon Tum, TP. Pleiku, TP. Buôn Ma Thuột và TX. Gia Nghĩa; mối tương quan thống kê giữa nhiệt độ, lượng mưa với DI, BI và số ca mắc bệnh (2009 - 2013).
  • Đánh giá hiệu quả can thiệp tại phường Tân Tiến so với phường Thành Công:
    • Kết quả hoạt động của Ban chỉ đạo, mạng lưới CTV, tập huấn và truyền thông.
    • Kết quả chiến dịch VSMT, thu gom DCPT và chiến dịch thả cá bảy màu.
    • Diễn biến chỉ số DI và BI hàng tháng từ tháng 01/2013 đến tháng 10/2014 ở hai phường.
    • So sánh số ca mắc SXHD thực tế ghi nhận giữa phường can thiệp và đối chứng.
    • Sự thay đổi về tỷ lệ kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) của người dân trước và sau can thiệp, cùng khả năng duy trì tính bền vững của các biện pháp.

Chương 4: BÀN LUẬN

Chương bàn luận phân tích chuyên sâu các phát hiện nghiên cứu đặt trong tương quan với các công trình khoa học trong nước và quốc tế:

  • Luận giải đặc điểm dịch tễ học SXHD tại Tây Nguyên giai đoạn 2005 - 2014: tính chu kỳ, yếu tố địa lý - dân cư tập trung tại các đô thị, sự chuyển dịch nhóm tuổi mắc bệnh, cơ cấu các type vi rút Dengue lưu hành và sự thay thế type trội qua các năm.
  • Vai trò truyền bệnh của loài muỗi Aedes aegypti tại Tây Nguyên và mối liên hệ sinh thái giữa điều kiện thời tiết (nhiệt độ, lượng mưa) đối với sự phát triển của véc tơ và mức độ lan truyền dịch bệnh.
  • Bàn luận về tính khả thi, hiệu quả và tính bền vững của mô hình phòng chống SXHD chủ động dựa vào cộng đồng: vai trò chỉ đạo của chính quyền địa phương, hiệu quả của mạng lưới CTV vãng gia, việc lựa chọn biện pháp sinh học thả cá bảy màu kết hợp loại trừ ổ bọ gậy nguồn và sự chuyển biến thực chất trong thực hành tự phòng bệnh của người dân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt khoa học và lý luận

  • Cung cấp bức tranh toàn diện, có hệ thống về dịch tễ học bệnh SXHD tại khu vực Tây Nguyên trong khoảng thời gian 10 năm (2005 - 2014), xác định đặc điểm lưu hành của 4 type vi rút Dengue và vai trò véc tơ truyền bệnh chính của loài Aedes aegypti.
  • Làm rõ quy luật diễn biến theo mùa của các chỉ số côn trùng (DI, BI) và số ca mắc SXHD trong mối tương quan với các yếu tố khí tượng (nhiệt độ, lượng mưa trung bình) tại 4 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2009 - 2013.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Xây dựng và chứng minh hiệu quả thực tế của mô hình phòng chống sốt xuất huyết chủ động dựa vào cộng đồng tại địa bàn phường đô thị Tây Nguyên (phường Tân Tiến, TP. Buôn Ma Thuột).
  • Can thiệp đã giúp nâng cao tỷ lệ người dân có kiến thức, thái độ và thực hành đúng về phòng chống SXHD; làm giảm các chỉ số côn trùng (DI, BI) và giảm số ca mắc bệnh tại địa bàn can thiệp so với địa bàn đối chứng.
  • Đưa ra quy trình phối hợp liên ngành giữa chính quyền địa phương, trạm y tế và mạng lưới CTV nòng cốt, kết hợp biện pháp thả cá bảy màu và thu gom DCPT có tính ứng dụng cao.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất

  • Duy trì và nhân rộng mô hình phòng chống SXHD dựa vào cộng đồng tại các địa bàn có nguy cơ cao thuộc khu vực Tây Nguyên.
  • Tăng cường kinh phí và cơ chế hỗ trợ duy trì hoạt động thường xuyên của mạng lưới CTV y tế cơ sở.
  • Tiếp tục thực hiện giám sát dịch tễ học chủ động, kết hợp theo dõi các chỉ số véc tơ và phân lập vi rút để dự báo và phát hiện sớm nguy cơ bùng phát dịch.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế nghiên cứu:
    • Mục tiêu 1 sử dụng phương pháp hồi cứu số liệu báo cáo hành chính, do đó mức độ chi tiết của một số biến số dịch tễ phụ thuộc vào chất lượng thống kê của hệ thống giám sát qua từng thời kỳ.
    • Mô hình can thiệp tại Mục tiêu 2 triển khai trong phạm vi một phường nội thị (Tân Tiến, TP. Buôn Ma Thuột) trong thời gian gần 2 năm (2013 - 2014), chưa đánh giá trên diện rộng ở các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa có điều kiện kinh tế - xã hội và tập quán trữ nước khác biệt.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng thử nghiệm mô hình can thiệp tại các xã nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên.
    • Nghiên cứu dài hạn về sự biến đổi gen của các chủng vi rút Dengue lưu hành và tính nhạy cảm/kháng hóa chất diệt của quần thể muỗi Aedes aegypti tại thực địa.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Y học dự phòng, Y tế công cộng, Dịch tễ học và Côn trùng học y học tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu can thiệp cộng đồng có đối chứng và kỹ thuật phân tích số liệu dịch tễ.
  • Cán bộ quản lý y tế dự phòng tại các Viện Vệ sinh Dịch tễ, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) các tỉnh Tây Nguyên và khu vực miền Trung tham khảo dữ liệu dịch tễ học lịch sử và áp dụng mô hình quản lý véc tơ chủ động.
  • Chính quyền cơ sở và các tổ chức đoàn thể xã hội tham khảo quy trình tổ chức, huy động mạng lưới CTV và cộng đồng tham gia vệ sinh môi trường, diệt bọ gậy phòng chống dịch bệnh.

Câu hỏi thường gặp

  1. Véc tơ truyền bệnh sốt xuất huyết Dengue chủ yếu được xác định tại Tây Nguyên trong nghiên cứu là loài nào?
    Véc tơ truyền bệnh chính được xác định tại khu vực là loài muỗi Aedes aegypti.

  2. Nghiên cứu can thiệp cộng đồng được triển khai tại địa bàn cụ thể nào?
    Mô hình được triển khai tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk; trong đó phường Tân Tiến là điểm can thiệp và phường Thành Công là điểm đối chứng, thực hiện từ tháng 01/2013 đến tháng 10/2014.

  3. Cơ sở nào được sử dụng để tính cỡ mẫu điều tra kiến thức, thái độ, thực hành (KAP) của hộ gia đình?
    Cỡ mẫu tính theo công thức so sánh hai tỷ lệ trong nghiên cứu can thiệp với mức ý nghĩa $\alpha = 0,05$, lực mẫu $1-\beta = 95%$, tỷ lệ thực hành đúng ban đầu $p_1 = 27%$ (theo số liệu nghiên cứu năm 2012 của Ngô Thị Hải Vân) và tỷ lệ kỳ vọng sau can thiệp $p_2 = 40,5%$, cho ra cỡ mẫu lý thuyết là 315 hộ/nhóm (thực tế điều tra 403 hộ lần 1 và 399 hộ lần 2 tại nhóm can thiệp).

  4. Những biện pháp can thiệp chính nào đã được áp dụng trong mô hình tại phường Tân Tiến?
    Mô hình gồm kiện toàn Ban chỉ đạo và mạng lưới CTV, tập huấn chuyên môn, truyền thông vãng gia định kỳ, tổ chức chiến dịch vệ sinh môi trường thu gom dụng cụ phế thải, và thả cá bảy màu vào các dụng cụ chứa nước sinh hoạt.

  5. Tại sao chỉ số Breteau (BI) được đánh giá cao hơn chỉ số nhà có bọ gậy (HI) trong việc ước tính mật độ muỗi?
    Chỉ số HI chỉ phản ánh tỷ lệ phần trăm nhà có bọ gậy mà không cho biết số lượng dụng cụ chứa nước có bọ gậy trong mỗi nhà. Chỉ số BI thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa số dụng cụ chứa nước có bọ gậy trên 100 nhà điều tra, giúp ước tính chính xác hơn mật độ của quần thể muỗi Aedes.

Kết luận

Luận án của tác giả Ngô Thị Hải Vân đã mô tả có hệ thống thực trạng dịch tễ học bệnh sốt xuất huyết Dengue, sự lưu hành của các type vi rút và đặc điểm sinh thái véc tơ tại 4 tỉnh Tây Nguyên giai đoạn 2005 - 2014. Công trình đã thiết lập và chứng minh hiệu quả thực tế của mô hình can thiệp chủ động dựa vào cộng đồng tại thành phố Buôn Ma Thuột giai đoạn 2013 - 2014. Các kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học và thực tiễn phục vụ công tác tổ chức, quản lý và kiểm soát dịch sốt xuất huyết Dengue tại khu vực Tây Nguyên.