ĐẶT VẤN ĐỀ Sốt xuất huyết Dengue là bệnh truyền nhiễm cấp tính gây dịch do vi rút Dengue gây nên, véc tơ chính truyền bệnh dịch này là muỗi Aedes aegypti. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trước năm 1970 chỉ có 9 quốc gia báo cáo có bệnh SXHD, con số này đã tăng gấp 4 lần vào năm 1995. Bệnh hiện lưu hành ở trên 100 nước thuộc khu vực có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới vùng Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương, Châu Mỹ, Châu Phi với khoảng 2,5 tỷ người sống trong vùng nguy cơ dịch [1]. Tại Việt Nam, sốt xuất huyết Dengue cũng đang là vấn đề y tế công cộng rất lớn và là một trong những bệnh truyền nhiễm có tỷ lệ mắc và tử vong cao ở nước ta.
Dịch bệnh ghi nhận ở cả bốn khu vực Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên, nhất là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng Bắc bộ và vùng ven biển miền Trung [2]. Từ năm 1999, đã có Chương trình phòng, chống sốt xuất huyết quốc gia hoạt động rất tích cực, nhưng số mắc bệnh dịch này trung bình mỗi năm vẫn không ổn định. Tỷ lệ mắc sốt xuất huyết/100.000 dân có xu hướng tăng, từ 32,5 năm 2000 (24. Ở khu vực Tây Nguyên, vi rút Dengue lưu hành quanh năm.
Một số năm có dịch lớn là: 1983; 1987; 1988; 1991; 1995; 1998; 2004 với số mắc từ 54,80 - 553,38/100.000 dân, số chết từ 0,08 - 1,34/100.000 dân, giữa các năm có dịch lớn, hàng năm dịch bệnh xảy ra rải rác, khu trú và phát triển mạnh hơn ở thành phố, thị xã, thị trấn nơi đông dân cư [4], [5], [6]. Cho đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, vắc xin phòng bệnh đang trong giai đoạn nghiên cứu. Việc chẩn đoán, điều trị và phòng, chống véc tơ truyền bệnh là các khâu cơ bản trong chiến lược phòng, chống bệnh sốt xuất huyết Dengue. Đặc biệt, phòng và diệt véc tơ là biện pháp chủ yếu, đóng vai trò quan trọng trong phòng, chống bệnh dịch này.
2 Là khu vực có đặc điểm sinh thái đặc thù trong đó có những yếu tố liên quan đến sự lưu hành của bệnh SXHD đặc biệt là các loài muỗi Aedes, đáng chú ý là Aedes aegypti và Aedes albopitus. Có thể nói Tây Nguyên là khu vực luôn có số mắc cao và diễn biến phức tạp. Đã có một số nghiên cứu về tình hình SXHD [4], [5], [6], [7] và biện pháp phòng, chống bệnh dịch này ở khu vực [8], [9], [10], [11], [13]. Song cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện, trong thời gian dài về các yếu tố dịch tễ học bệnh SXHD và cũng chưa có mô hình phòng chống bệnh dịch này có hiệu quả, bền vững.
Câu hỏi đặt ra là thực trạng sốt xuất huyết Dengue ở Tây Nguyên thế nào, có tính đặc thù riêng? Bệnh dịch Sốt xuất huyết Dengue ở khu vực này có chu kỳ hay không? Có bao nhiêu type vi rút Dengue xuất hiện và lưu hành ở Tây Nguyên, phân bố theo không gian, thời gian? Véc tơ truyền bệnh dịch này ở Tây Nguyên là loài gì? Mô hình phòng chống nào hiệu quả, phù hợp ở địa phương này? Vì vậy chúng tôi tiến hành xây dựng và nghiên cứu đề tài: “Thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue và đánh giá hiệu quả mô hình can thiệp dựa vào cộng đồng ở Tây Nguyên (2005-2014)”, với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả thực trạng bệnh sốt xuất huyết Dengue và một số yếu tố liên quan ở 4 tỉnh Tây Nguyên (2005 -2014). Đánh giá hiệu của quả mô hình phòng chống sốt xuất huyết Dengue dựa vào cộng đồng ở phường Tân Tiến, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đăk Lăk (2013-2014). 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Một số đặc điểm sốt xuất huyết Dengue 1. Lịch sử bệnh sốt xuất huyết Dengue Vào khoảng đầu năm 992 sau công nguyên, đã có một bệnh tương tự như sốt xuất huyết Dengue (SXHD) hiện nay nhưng không rõ tác nhân gây bệnh là gì và đã được ghi nhận tại Trung Quốc. Sau đó bệnh bùng phát rải rác và ghi nhận rõ nhất cách đây hơn 3 thế kỷ ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới. Năm 1635, dịch bệnh ghi nhận ở những vùng Tây Ấn Độ thuộc cộng hoà Pháp.
Năm 1870, có tác giả đã mô tả bệnh “sốt gãy xương” ở Philadelphia có các đặc điểm lâm sàng giống với SXHD, rất có thể đấy chính là bệnh SXHD ngày nay, nhưng vào thời điểm đó khoa học chưa thể minh chứng [15]. Trong thế kỷ XVIII, XIX và đầu thế kỷ XX, đã xảy ra những vụ dịch sốt xuất huyết tương tự ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới và một số vùng có khí hậu ôn đới. Hầu hết các trường hợp bệnh của những vụ dịch này là sốt xuất huyết thể nhẹ và chỉ chiếm một tỷ lệ không nhiều là các trường hợp mắc sốt xuất huyết thể nặng. Các vụ dịch tương tự ghi nhận xảy ra vào những năm 1778 -1780 ở châu Á, châu Phi và Bắc Mỹ gần như đồng thời, chứng tỏ rằng nếu đây là dịch SXHD thì tác nhân gây bệnh cũng như véc tơ truyền bệnh đã phân bố rộng rãi trên toàn thế giới từ hơn 200 năm trước.
Trong suốt thời gian này SXHD chưa xác định được tác nhân gây bệnh và chỉ được xem là bệnh nhẹ, không nguy hiểm [15]. Vụ dịch sốt Dengue đầu tiên với tác nhân rõ ràng xảy ra tại Öc năm 1897, tiếp theo được được ghi nhận ở Hy Lạp vào năm 1928 và ở Đài Loan năm 1931. Vụ dịch đầu tiên được khẳng định là SXHD được ghi nhận tại Philippines vào năm 1953 - 1954. Từ đó, nhiều vụ dịch SXHD lớn đã xảy ra ở hầu hết các vùng/lãnh thổ thuộc Đông Nam Á bao gồm Ấn Độ, Indonesia, 4 Mandives, Myanmar, SriLanka, Thái Lan, Singapore, Campuchia, Trung Quốc, Lào, Malaysia, Philippines và Việt Nam.
Từ thập kỷ 80, dịch SXHD tiếp tục tăng lên ở Đông Nam Á, các bán đảo Đông Dương, Ấn Độ Dương, tại Trung và Nam Mỹ, các đảo Thái Bình Dương và đảo Caribê (nhiều nhất là Cuba). Những năm 1970, SXHD xuất hiện ở hầu hết các nước Châu Á trong đó bao gồm cả Việt Nam, hàng năm có khoảng 600.000 ca bệnh SXHD. Trước năm 1975 có khoảng 10 nước báo cáo có dịch SXHD, từ năm 1980 có trên 50 nước thông báo có dịch SXHD. Gần đây, các vụ dịch SXHD đã liên tiếp xảy ra ở 5 trong số 6 khu vực là thành viên của Tổ chức Y tế Thế giới, chỉ trừ khu vực Châu Âu.
Tuy vậy, một số nước thuộc khu vực Châu Âu này đã có một số lượng đáng kể các trường hợp SXHD từ các nước khác đến. Tại một số nước ở khu vực Đông Nam Á, dịch SXHD hầu như năm nào cũng xảy ra với qui mô ngày một lan rộng. Hiện nay, những khu vực có khí hậu nhiệt đới đều là những vùng nguy cơ bị dịch cao với tất cả 4 type vi rút lưu hành [15]. Tại Việt Nam, dịch SXHD xuất hiện đầu tiên từ cuối những năm 1959- 1960, lan rộng từ các thành phố lớn về thị trấn, nông thôn.
Trong quá khứ đã có nhiều vụ dịch liên tiếp xảy ra vào những năm 1969, 1973, 1975, 1977, 1979, 1980, 1986, 1987 [16]. Đáng chú ý là vụ dịch SXHD năm 1998 xảy ra ở 56/61 tỉnh thành trong cả nước với ca mắc lên đến hàng trăm ngàn trường hợp. Cho đến nay đã trở thành một bệnh dịch lưu hành địa phương, phát triển mạnh tại các tỉnh thành khu vực miền Nam. Trước tình hình dịch bệnh SXHD diễn biến phức tạp Chính phủ Việt Nam đã phê duyệt Dự án quốc gia phòng chống SXHD và bắt đầu hoạt động từ năm 1999 [2].
Sau khi có hoạt động của dự án, tình hình dịch SXHD có chiều hướng giảm trong các năm sau đó, tuy nhiên từ năm 2004 trở lại đây dịch bệnh có chiều hướng gia tăng trở lại và đã trở thành một trong mười bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cần được quan tâm hàng đầu tại Việt Nam. Một số đặc điểm sinh học của véc tơ truyền bệnh SXHD 1. Vài nét về sự phân bố của loài muỗi Aedes aegypti. aegypti phân bố trong vùng nhiệt đới và ôn đới của các châu lục (giữa 450 vĩ tuyến Bắc và 350 vĩ tuyến Nam) giới hạn bằng đường đẳng nhiệt 100C, về độ cao chúng có mặt từ 0 đến 1200 m, một ít quần thể có mặt đến độ cao 1800 m (ở Ấn Độ).
Tại Việt Nam, phân bố ở hầu hết các tỉnh/thành phố, tuy nhiên mật độ cao và chiếm ưu thế hơn ở các tỉnh Miền Nam, Miền Trung và Tây Nguyên. Tại Miền Bắc, Ae. aegypti chủ yếu tập trung ở thành phố, rồi đến các đồng bằng ven biển và các làng mạc gần đường giao thông. Đó là những nơi có dân cư đông đúc, có nhiều dụng cụ chứa nước, dụng cụ phế thải.
và các phương tiện giao thông thường xuyên qua lại. Hiện nay kinh tế phát triển, việc đô thị hóa nhanh chóng nhưng không đồng bộ (cấp thoát nước chưa đầy đủ, vệ sinh môi trường kém), sự thờ ơ của một số người dân với giáo dục sức khỏe cho cộng đồng, điều đó góp phần làm cho vùng phân bố của Aedes aegypti ngày càng mở rộng [18]. Trong 64 tỉnh, thành của cả nước, có 11 tỉnh miền núi phía bắc không có sự lưu hành của muỗi Aedes aegypti (7 năm liền từ 1999 đến 2005) đó là: Bắc Cạn, Cao Bằng, Điện Biên, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái. 53 tỉnh/thành còn lại đều có sự lưu hành của muỗi, nhưng tập trung và liên tục trong các năm ở các tỉnh miền Nam, sau đến miền Trung và Tây Nguyên [19].
Đặc điểm hình thái muỗi Aedes aegypti trưởng thành. Hình thái muỗi Ae. aegypti trưởng thành rất dễ nhận biết, với kích thước trung bình, chân và bụng có các khoang đen, trắng rõ rệt. Thân có nhiều vẩy trắng bạc, tập trung thành từng cụm hay từng đường trên mình muỗi.
Vòi không có băng trắng, đỉnh pan trắng. Trên mặt lưng ngực có hai đường vẩy màu trắng bạc phình ra, như hai nửa vòng cung ôm hai bên lưng nên gọi là hình đàn Lia. Trên mặt lưng bụng ở gốc các đốt II đến VIII đều có những 6 đường vẩy ngang từng đốt, gốc các đốt bàn chân sau có những khoang trắng, riêng đốt bàn chân thứ V trắng hoàn toàn, cho nên muỗi còn có tên gọi là muỗi vằn. Cơ thể muỗi chia làm ba phần: đầu, ngực và bụng [18].1: Muỗi Aedes aegypti 1.
Đặc điểm sinh học Aedes aegypti Vòng đời của Ae. aegypti có 4 giai đoạn: Trứng - Bọ gậy - Quăng - Muỗi trưởng thành.