Đặt vấn đề Việt Nam đang bước vào thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, xã hội phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu và lợi ích của con người, song cũng dẫn tới những vấn đề nan giải như gây ra sự ô nhiễm môi trường ngày càng tăng cao. Lượng rác thải ra từ sinh hoạt cũng như các hoạt động sản xuất của con người ngày càng nhiều, và mức độ gây ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng ở nhiều vùng khác nhau. Một số bộ phận không nhỏ góp phần vào ô nhiễm đó là nguồn rác thải sinh hoạt, rác thải sinh hoạt không chỉ nhiều ở thành phố, các khu đô thị lớn của cả nước mà còn phát sinh từ khu vực nông thôn chiếm một lượng lớn do dân số khu vực nông thông chiếm khoảng 65,4% dân số cả nước (TKDS, 2016). Theo thống kê từ Bộ Tài Nguyên và Môi Trường năm 2017, tổng lượng chất thải rắn (CTR) sinh hoạt ước tính khoảng 12,8 triệu tấn/năm.
Tuy nhiên người dân nông thôn (đặc biệt vùng xâu vùng xa) vẫn thói quen đổ rác thải bừa bãi ven đường, bờ sông, ao hồ. tạo nên những bãi rác tự phát, không chỉ ô nhiễm đất, nước, không khí đe dọa trực tiếp tới phát triển kinh tế - xã hội bền vững sự tồn tại của các thế hệ hiện tại và tương lai. Thị xã Nghĩa Lộ nằm phía tây của Tỉnh Yên Bái, là nơi có một số đường giao thông trọng điểm chạy qua. Vì vậy các hoạt động kinh tế, dịch vụ của thị xã tương đối phát triển, đồng thời dân số của thị xã tăng nên nhu cầu của người dân cũng tăng theo.
Cùng với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng trở lên bức xúc, rác thải càng nhiều ô nhiễm môi trường gia tăng, vấn đề quản lý môi trường ở các cấp các ngành vẫn còn bộc lộ nhiều yếu kém, bất cập. Rác thải được thu gom tập trung ở một số bãi rác lộ thiên, phần đa rác h 2 không được tiến hành xử lý, chôn lấp, làm mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trường, gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Xuất phát từ thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Tài Nguyên và Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo GS.TS Nguyễn Thế Hùng - Giảng viên khoa Môi Trường, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thị Xã Nghĩa Lộ - tỉnh Yên Bái”. Mong muốn góp phần nào giải quyết các vấn đề khó khăn hiện nay trong công tác quản lý, xử lý rác của thị xã Nghĩa Lộ, góp phần giảm thiếu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt.
Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1. Mục đích của đề tài Điều tra, đánh giá hiện trạng công tác thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ. Đề xuất các biện pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn phù hợp với điều kiện của huyện để đạt hiệu quả cao hơn nhằm nâng cao công tác quản lý môi trường một cách khoa học và bền vững, kết hợp với việc bảo vệ môi trường góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Mục tiêu của đề tài Tìm hiểu điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội trong các năm gần đây của thị xã Nghĩa Lộ.
Tìm hiểu nguồn phát sinh rác thải của địa phương và các biện pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ. Nâng cao nhận thức của người dân về công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ Đề xuất các biện pháp để thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt phù hợp cho thị xã Nghĩa Lộ. Yêu cầu của đề tài Các số liệu và thông tin đưa ra phải đảm bảo độ tin cậy,trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ, chi tiết. Những giải phát đề xuất phải có tính khả thi phù hợp với điều kiện của thị xã.
Ý nghĩa của đề tài * Trong học tập và nghiên cứu khoa học: - Đề tài sẽ là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề. - Đề tài là cơ sở để lựa chọn, áp dụng các biện pháp quản lý rác thải phù hợp mang lại hiệu quả cao. * Trong thực tiễn: - Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn thị xã Nghĩa Lộ. - Đề xuất những biện pháp khả thi nằm tăng cường lượng rác thải được thu gom, xử lý.
h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường 2014 - Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật bảo vệ môi trường. - Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính Phủ về quản lý chất thải và phế liệu. - Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 2 năm 2015 quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 9 tháng 4 năm 2007 của chính phủ ban hành quy định về hoạt động quản lý chất thải rắn, quyền hạn và trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức liên quan đến QLCTR. - Nghị định số 179/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực BVMT. - Quyết định số 1216/QĐ-TTg ngày 5 tháng 9 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường Quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. - Quyết định số 2149/2009/QĐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ tướng chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2050.
- Thông tư số 121/2008/TT-BTC ngày 12 tháng 12 năm 2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn. h 5 - Quyết định số 1433/QĐ-UBND ngày 18 tháng 7 năm 2016 của UBND tỉnh Yên Bái về việc ban hành kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Yên Bái2. Cơ sở khoa học 2. Các khái niệm liên quan - Rác: Là thuật ngữ dùng để chỉ chất thải rắn hình dạng tương đối cố định, bị vứt bỏ từ hoạt động của con người.
Rác sinh hoạt hay chất thải rắn sinh hoạt là một bộ phận của chất thải rắn, được hiểu là các chất thải rắn phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con người. - Chất thải: là mọi thứ mà con người, thiên nhiên và quá trình con người tác động vào thiên nhiên thải ra môi trường [7]. Chất thải là sản phẩm được phát sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, du lịch, giao thông, sinh hoạt tại các gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. - Chất thải rắn: Là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại [2].- Chất thải rắn sinh hoạt: Là chất thải ở trạng thái rắn phát sinh trong các hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người từ các khu dân cư, làng mạc, trường học… Chất thải sinh hoạt hay còn gọi là rác thải sinh hoạt cần được phân loại và có biện pháp tái sử dụng, tái chế, xử lý hợp lí để thu hồi năng lượng và bảo vệ môi trường. - Tái chế chất thải: thực chất là người ta lấy lại những phần vật chất của sản phẩm hàng hóa cũ và sử dụng các nguyên liệu này để tạo ra những sản phẩm mới. - Tái sử dụng chất thải: thực chất có những sản phẩm hoặc nguyên liệu có quãng đời sử dụng kéo dài, người ta có thể sử dụng được nhiều lần mà không bị thay đổi hình dạng vật lý, tính chất hóa học. h 6 - Phế liệu: là sản phẩm, vật liệu bị loại trừ ra khỏi quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng được thu hồi để tái chế, tái sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất sản phẩm khác.
- Quản lý rác thải sinh hoạt: là hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư, xây dung cơ sở quản lý rác thải sinh hoạt thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt để giảm thiểu ô nhiễm môi trường. - Thu gom rác thải: là hoạt động tập hợp, phân loại, lưu giữ tạm thời rác thải tại nhiều điểm thu gom và cơ sở được cơ quan thẩm quyền chấp thuận. - Vận chuyển rác thải: là quá trình chuyên chở rác thải nơi phát sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc bãi chôn lấp cuối cùng. - Xử lý rác thải: là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong rác thải, thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong rác thải.
- Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh: Là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh (Luật Bảo vệ Môi Trường, 2014) [1]. Nguồn gốc và phân loại và thành phần chất thải 2. Nguồn phát sinh chất thải Khối lượng rác thải sinh hoạt hiện nay càng ngày càng tăng do các tác động của sự gia tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội mà nhu cầu sử dụng tiêu dùng trong các đô thị và các vùng nông thôn đã có những thay đổi. Trong đó các nguồn phát sinh chất thải chủ yếu gồm: - Hộ gia đình (ở nhà riêng, khu chung cư, khu tập thể,.) - Từ các khu công nghiệp (công nghiệp nhẹ, công nghiệp hóa học, công nghiệp năng lượng, vật liệu xây dựng.) h 7 - Nông nghiệp sử lý rác thải, thu hoạch vụ mùa, khu chăn nuôi,.
- Các khu trống đô thị (bến xe, công viên.) - Thương mại, dịch vụ (các cửa hàng, chợ.) - Cơ quan, trường học, khu hành chính. - Bệnh viện cơ sở y tế (túi nilong, kim tiêm, ống nhựa, thùng cartong, …) - Giao thông xây dựng, di rời, sửa chữa nhà cửa, đường xá, công trình.