Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Sơ lược về cây mít 1.1 Phân loại, nguồn gốc Cây mít có tên khoa học Artocarpus heterophyllus Lam. thuộc: Ngành (Division): Spermatophyta Lớp (Class): Dicotyledoneae Bộ (Ordo): Urticales Ho (Familia): Moraceae Chi (Genus): Artocarpus Loai (Species): Artocarpus heterophyllus Mit (Artocarpus heterophyllus Lam.) có nguồn gốc từ An Độ, những phát hiện khảo cổ học cho rang mít được trồng cách đây 3. Mit cũng được trồng rộng rãi tại khu vực Đông Nam A (APAARI, 2012). Mít là cây ưa sáng vừa phải, thích hợp với đất thoát nước, đất feralit vùng trung du.
Tuy nhiên hiện nay cây mít có thé được trồng trọt tại tat cả các vùng sinh thái dia lý của Việt Nam. Mit là cây lưu niên có tiềm năng to lớn về mặt cung cấp chất bột và các chất dinh dưỡng cho con người (Phạm Hùng Cương và Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2019).2 Đặc điểm sinh học của cây mít Mit là loài cây thân gỗ đại mộc, có thời gian sống từ 20-100 năm. Thân Cao từ 10-30 m, vỏ day màu xám sam, phân nhiều cành, tán lá rộng 5-10m. Các cây mít kích cỡ nhỏ có đường kính gốc từ 10em - 20cm, cây mít trung bình đường kính gốc từ 20cm đến 30 cm, cây mít lớn đường kính gốc trên 30cm.
Thân hóa gỗ và gỗ mít giòn, bở, không được tốt lắm, được xếp và nhóm IV. Thân cây mít được chia thành nhiều cấp cành, cành non có lông và vêt vòng lá kèm, chính các cành quyét định kích thước của tán lá. Lá đơn, mọc cách, phiến lá dày hình trái xoan, rộng hay trứng ngược, đài 7 - 15cm, đầu có mũi tù ngắn, mép lá nguyên và ở những cây non thường chia 3 thùy, mặt trên màu lục đậm bóng. Cuống lá dai 1 - 2,5em.
Lá kèm lớn, đính thành mo ôm cành, sớm rụng. Mít là cây có hoa đơn tính cùng gốc, với các hoa đơn tính của cả hai giới đều có mặt trên cùng một cây. Các cụm hoa sinh ra trên thân hay các cành chính. Cụm hoa cái hình bầu dục ở ngay trên thân hoặc các cành già.
Quả phức rất lớn, gồm nhiều quả thật, quả thật không phát triển tạo thành xơ mít, quả thật phát triển tạo thành múi mít, múi mít có phần thịt mềm, là thành phần chính để ăn từ quả mít, trong múi mít có thể có hat (đa số) và đôi khi không có hạt (do hat bị thoái hóa-thiêu số). Những gai nhọn bên ngoài vỏ quả phức (quả giả) chính là các đỉnh của quả thật nằm bên trong quả phức. Quả mit to, dài chừng 30-60cm, đường kính 18-30cm, ngoài vỏ có gai. Trừ lớp vỏ gai, phần còn lại của quả mít hầu như ăn được.
Múi mít chín ăn rất thơm ngon. Hạt mít có bên trong quả thật phát triển đầy đủ. Hạt có dạng hình thuôn dài 2-4cm, rộng 1,5-3cm. Hạt không có nội nhũ mà chỉ có 2 lá đài.
Trong hạt có chứa nhiều dinh dưỡng chủ yếu là chất bộ, có thể dùng như một loại hạt lương thực dé nau ăn trực tiếp hoặc chế biến nhiều các cách khác nhau. Hạt nảy mầm khỏe và là cách để nhân giống chủ yếu.3 Giá trị của cầy mít 1.1 Giá trị về dinh dưỡng Theo Ranasinghe va ctv, 2019, mít rất giàu chất dinh dưỡng bao gồm carbohydrate, protein, vitamin, khoáng chất và chất phytochemical. Mít được biết đến vì có mùi thơm đặc trưng khi quả chín. Hạt mít giàu calo (hơn cả khoai lang, sắn) và rất giàu các chất khoáng (calcium, lân, sắt.
Tuy nhiên, trong hạt mít, ngoài tinh bột, protid, lipid, muối khoáng còn chứa một chat ức chế men tiêu hóa đường ruột nên khi ăn nhiều dé bị đầy bụng.2 Giá trị về dược liệu Trong khoảng thời gian gan đây mít đem lại lợi nhuận khá ôn định so với các cây trồng khác, mít được người dân sử dụng gan như là hết tat cả các bộ phận trên cây, có thé xuất khâu sang các quốc gia trên thé giới, mang lại giá trị lớn cho các đoanh nghiệp. Theo Swami SB và ctv (2012), mít có khả năng kháng khuẩn, kháng nam, tri dai tháo đường, chống viêm và chống oxy hóa. Mit chứa các hợp chat chức năng có kha năng làm giảm các bệnh khác nhau như huyết áp cao, bệnh tim, đột quy và loãng xương. Mit cũng có khả năng cải thiện chức năng co và thần kinh, lam giảm mức homocysteine trong máu.
Mít rất giàu kali giúp giảm huyết áp và đảo ngược tác dụng của natri gây tăng huyết áp ảnh hưởng đến tim và mạch máu; giúp ngăn ngừa bệnh tim, đột quy và mat xuong, đồng thời cải thiện chức năng cơ và thần kinh.4 Đặc điểm một số giống mít Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012) mít chia thành hai nhóm: Nhóm mít dai (mít ráo) thịt cứng và giòn, nhóm mít mật (mít ướt) khi chín thịt nhão. Mít Dai: quả to, gai đều và thưa, nhiều múi, ít xơ, múi to, dày và giòn, cứng. Cây lâu năm cho tối đa khoảng 20 quả. Mit Mật: quả to giống mít dai, khác biệt chủ yêu múi mềm nhão.
Mit Tổ nữ: (tên khoa học là Artocarpus integer (Thunb.) quả nhỏ, múi mềm, nhưng không nhão như mít mật, cây rất nhiều quả. Mit Nghệ: múi day, màu vàng như màu nghệ. Quả nhỏ nhưng vỏ mỏng, nhiều múi, ít xơ, nhiều quả, năng suất cao, thích hợp làm mít say khô. Mít Mã Lai: đặc điểm cây và quả giống mít tố nữ, hạt lép hoặc không hạt.
Mít Thái: giống cây dễ trồng, ít công chăm sóc, thời gian sinh trưởng ngắn, cho thu hoạch nhanh, năng suất cao, đậu trái quanh năm, muối mong va giòn ngọt, đặc biệt cây trồng phù hợp với vùng đất đồi.5 Tình hình sản xuất mít tại Việt Nam 1.1 Diện tích gieo trồng Quả mít đã được trồng ở tất cả các vùng sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, vùng trồng chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu được phân bố ở khu vực Bắc Trung Bộ (Hà Nội), miền núi phía Bắc (tinh Bắc Giang va Sơn La), Tây Nguyên (tinh Dak Lak) và khu vực phía Nam (Đồng Nai, Tây Ninh, Tiền Giang). Năm 2020, tông diện tích trồng mít ở Việt Nam là 59. Trong đó, diện tích mít trồng mới là 16.950,1 ha, điện tích cho sản phẩm là 34.587,3 ha, năng suất trên diện tích cho sản phẩm là 158,3 ta/ha và san lượng thu hoạch là 547.
Diện tích trồng mít ở đồng bằng Sông Cửu Long lớn nhất nước ta với 29.979,4 ha, tiếp theo là Đông Nam Bộ với 12.609,1 ha và Đồng bằng sông Hồng với 2. Tiền Giang hiện là tỉnh có điện tích mít lớn nhất ĐBSCL với 13.141,09 ha, trong đó diện tích trồng mới chiếm 3.600,01 ha, điện tích cho sản phâm 7.305,75 ha với năng suất đạt 260,89 tạ/ha (Cục bảo vệ thực vật, 2021). Theo số liệu thống kê đến cuối năm 2021 diện tích mit tại Việt Nam đạt 72.4 ha với san lượng ước đạt 706. Trong đó, khu vực Đồng bang sông Cửu Long chiếm hon 50% diện tích cả nước (38.2 Thị trường xuất khẩu Có rất nhiều loại mít được bán ở Việt Nam bao gồm mít truyền thống Việt Nam, mít Nghệ, mít Tổ Nữ, mít Thái, mít Viên Linh, mít ruột đỏ và mít không hạt.
Các bộ phận thực vật được xuất khẩu: quả tươi, mít say khô, mit đông lạnh. Việt Nam dang xuất khẩu mít sấy khô, quả mít đông lạnh và quả mít tươi sang nhiều nước trên thế giới. Các thị trường chính của quả tươi bao gồm Trung Quốc, Dubai, Philippin, Italia, Hàn Quốc (Cục bảo vệ thực vật, 2021).6 Một số bệnh hại trên mít 1.1 Bệnh nứt thần xì mủ Bệnh nút thân xì mủ do Phytophthora palmivora gây ra, làm thân chảy mủ, cành nhánh khô, lá vàng roi rung, qua thối nâu. Bệnh này thường hoạt động mạnh khi đất bị úng nước, pH thấp (Mai Van Tri và ctv, 2015).
Bệnh thể hiện ở vùng sốc có nhiều vết loét, nước dich từ bên trong chảy rỉ ra, vỏ vùng góc bị thối từng mảng to, bề mặt lớp gỗ 4m ướt và thâm den. Lá vàng, rụng và cây chết. Phòng trị bệnh này bằng cách thiết kế vườn sao cho không bị 4m thấp, lên mô cao, trồng mật độ vừa phải, tỉa cành tao tan, bón vôi, sử dụng phân hữu cơ bổ sung Trichoderma, sử dụng thuốc trừ bệnh. Thường khi phát hiện được thì bệnh ở tình trạng nặng, khó phòng trừ.
Theo Lê Phương Thư (2015) có thé quét chế phẩm sinh học Trichoderma và các loại thuốc trừ bệnh có gốc Mancozeb, Metalaxyl, Fosetyl Aluminium vào vết bệnh 3 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày có hiệu quả giảm bệnh nứt thân xi mủ do Phytophthora palmivora gây ra.3 Bệnh thối trái Do Rhizopus artocarpina gây ra. Bệnh chủ yéu gây hại hoa và trái mít non, nam làm hoa và trái bị thối đen, trên đó sinh ra các sợi nắm màu đen tua tủa. Bệnh phát triển nhiều trong mùa mưa. Phòng trừ bệnh bằng cách loại bỏ kịp thời các hoa và quả bị bệnh.
Phun các thuốc có gốc Mancozeb, kẽm, đồng (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2012).4 Bệnh nắm hồng Bệnh nắm hồng do nắm Corticium salmonicolor gây ra. Bệnh thường tan công trên các cành nhỏ ở giai đoạn trưởng thành, đặc biệt gần các giao đoạn phân nhánh. Sợi nam lúc đầu màu trắng, sau chuyền sang màu hồng, tạo thành các hạch nhỏ màu đỏ. Bệnh thường phát sinh nhiều ở cây lớn tuổi, vườn ram rạp và ít ánh nắng (Chi cục Bảo vệ thực vật Tp.
Phòng trừ bang cách tỉa cành tạo môi trường thông thoáng, tránh âm ướt trong mùa mưa, thường xuyên theo dõi sức khỏe của cây.5 Bệnh đốm nâu Tác nhân gây hại là nấm Phomaopsis artocarpina. Triệu chứng bệnh chủ yếu xuất hiện ở lá, vết bệnh hình tròn, lúc đầu nhỏ, màu nâu, sau lớn lên đường kính 5-10 mm. Ở giữa vết bệnh có màu xám tro, trên đó có những hạt nhỏ màu đen xếp thành các đường vòng đồng tâm, đó là các 6 bào tử. Khi bệnh phát sinh nhiều, tiến hành trừ bệnh bằng cách phun các thuốc gốc đồng, Vimancoz, Zinc, Bendazol (Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa, 2012) 1.2 Tổng quan bệnh xơ đen trên mít 1.1 Giới thiệu bệnh Trên thế giới, bệnh xuất hiện chủ yếu ở các vùng trồng mít, gây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như năng suất cây trồng.
Còn tại Việt Nam bệnh xuất hiện nhiều ở Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long vào những tháng mùa mưa. Bệnh xuất hiện trên mít làm giảm chất lượng và giá trị của trái mít là nỗi lo của tất cả nhà vườn đang gặp phải.2 Tac nhan gay bệnh xơ den Nguyên nhân gây bệnh này là do vi khuẩn Pantoea stewartii (Smith) Mergaert, trước đây có tên Erwinia stewartii (Smith) (Gapasin va ctv, 2014).