Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu sơ lược về cây mít Theo Zielenski (1955) cây mít được phân loại như sau: Giới: Plante Ngành: Spermatophyta Lớp: Dicotyledonae Bộ: Urticales Họ: Moraceae Chi: Artocarpus Loài: Heterophyllus. Ở Việt Nam, cây mít được trồng từ miền Bắc vào miền Nam, riêng tại miền Nam của Việt Nam thì cây ăn quả nảy được trồng nhiều ở các tỉnh như Đồng Nai, Tây Ninh, Bình Dương, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Đồng Tháp (Nguyễn Thị Ngọc An, 1999). Thời gian gần đây, giống mít Thái siêu sớm du nhập từ Thái Lan đang được phát triển mạnh tại các tỉnh ĐBSCL.
Mít Thái siêu sớm có thời gian bắt đầu cho trái rất sớm, chất lượng và năng suất khá cao nên đã được nông dân ở các tỉnh như Tiền Giang, Hậu Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long phổ biến canh tác và không ngừng mở rộng (Lê Trí Nhân, 2016).1 Sự phát triển của chùm hoa, trái của mít 1.1 Sự phát triển của chùm hoa Theo Lê Trí Nhân (2016) sau khi nhú mam hoa, các chùm hoa bắt đầu phát triển, khi đến giai đoạn phân hóa các phát hoa sẽ xuất hiện. Hoa mít Thái mọc thành chùm trên thân chính hay cành thứ cấp. Mỗi chùm hoa có thể xuất hiện các kiểu phát hoa như 3 phát hoa chỉ có cụm hoa đực, phát hoa có cả cụm hoa đực và cái (duc-cai), và phát hoa chỉ có hoa cái. Trong cả hai mùa mua và mùa năng, đôi với giông mít Thái siêu sớm, phat hoa chỉ có cụm hoa cai có tỷ lệ xuât hiện cao nhât (50%) so với hai loại phát hoa còn lại 1.2 Sự phát triển của trái 1.1 Trọng lượng trái Theo Lê Trí Nhân (2016) trọng lượng trái mít Thái siêu sớm phát triển theo dạng đường cong đơn giản, có thể chia làm ba giai đoạn: 1.Giai đoạn 1, từ khi đậu trái đến 30 ngày sau khi đậu trái (NSKDT): là giai đoạn phân chia tế bào và hình thành các cơ quan, trọng lượng trái phát triển chậm.Giai đoạn 2, từ 30 - 80 NSKDT: Trọng lượng trái tăng nhanh và đạt tốc độ tăng trưởng cực đại ở giai đoạn 70 NSKĐT.Giai đoạn 3 (trưởng thành tới chín), từ 80 - 100 NSKĐT: Sau khi kết thúc giai đoạn tăng trưởng cực đại, ở giai đoạn này trọng lượng trái hầu như không tăng và tốc độ tang trưởng giảm nhanh ở giai đoạn 80 NSKDT.
Sự tăng trưởng trọng lượng trai và tốc độ tăng trưởng trái trong mùa mưa cũng tương tự như trong mùa nắng 1.2 Kích thước trái Theo Lê Trí Nhân (2016) kích thước trái tăng dan va gần như 6n định ở giai đoạn 80 NSKĐT đến khi thu hoạch. Tuy nhiên, chiều rộng trái tăng trưởng nhanh hơn va đạt giá trị cực đại ở giai đoạn 50 NSKĐT, trong khi chiều dải trái tăng trưởng đại ở giai đoạn 60 NSKDT. Trong mùa mưa, sự tăng trưởng của trái có chậm hơn khoảng 10 ngày so với mùa nang. Chiều dai trái tăng trưởng đến 90 NSKDT, đạt tốc độ tăng trưởng tối đa ở giai đoạn 60 - 70 NSKĐT và chiều rộng trái đạt tốc độ tối đa ở giai đoạn 50 - 60 NSKĐT.2 Tình hình sản xuất mít tại Việt Nam 1.1 Diện tích gieo trồng Tại Việt Nam, mít được trồng rộng rãi từ Bắc vào Nam với tổng diện tích vào năm 2018 là hơn 26.000 ha và tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 4 lớn nhất với hơn 10.
Vào năm 2020, diện tích mít của vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn giữ diện tích lớn nhất cả nước là gần 30.000 ha trên tổng sỐ gan 60.000 ha của ca nước (Cục Bao vệ Thực vật, 2021). Sau hon 2 năm phát triển thì tổng điện tích mít trên cả nước đã tăng hơn gấp 2 lần từ hơn 26.000 ha (2018) đến gần 60.000 ha (2020) và diện tích mít của đồng bằng sông Cửu Long tăng gần gấp 3 lần từ hơn 10. 000 ha (2018) đến gần 30. Diện tích trồng mít tăng mạnh nhất diễn ra ở các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long với gần 20.000 ha đóng góp cho tổng diện tích trồng mít cả nước.
Theo Cục Bao vệ Thực vật (2021), năm 2020 thì tỉnh Tiền Giang là địa phương có diện tích trồng mít lớn nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long với tổng diện tích trên 13.000 ha, trong đó diện tích trồng mới hơn 3.600 ha tập trung ở các huyện Cái Bè, Cai Lậy và thị xã Cai Lậy.2 Thị trường xuất khẩu Theo Cục Công Thương (2022), vào năm 2021, mít Việt Nam đã xuất khâu sang Úc tăng trưởng lên đến 20% so với năm 2020. Theo Cục Công Thương (2023), vào giữa tháng 03 năm 2023 thì giá mít thái tại nhiều địa phương khu vực đồng bằng sông Cửu Long như An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Tiền Giang, Đồng Nai liên tục tăng mạnh. Hiện, giá mít Thái loại 1 (trái có trọng lượng trên 10 kg) đang được bán 45.000 đồng/kg, loại 2 (7 - 8 kg) là 30.000 đồng/kg, loại 3 quanh 10. Day là mức giá tăng cao nhất trong 4 năm qua.
Nguyên nhân khiến giá tăng mạnh là nhu cầu xuất khâu cao, nhất là từ khi thị trường Trung Quốc mở cửa trở lại.3 Một số bệnh hại trên cây mít.1 Bệnh loét thần xì mủ Bệnh loét thân xì mủ do Phytophthora palmivora gây ra, làm thân chảy mủ, cảnh nhánh khô, lá vàng rồi rụng, quả thối nâu. Bệnh này thường hoạt động mạnh khi đất bị ting nước, pH thấp (Tri va ctv, 2015). Triệu chứng bệnh này được thấy khi những giọt nhựa cây (mủ) màu trắng tiết ra từ vết loét trên vỏ thân, khi lớp vỏ được cạo đi có thể thay những vệt hóa nâu chạy doc theo mach dẫn, mở rộng dan. Có thể có vết nứt doc thân và có mùi thối.
Lá phần phía trên vết bệnh vàng và rụng sớm; lá mới mọc thay thế thường nhỏ và phát triển kém; phần ngọn trụi lá khô dần và có thể chết (Nguyễn Phú Dũng và ctv.2 Bệnh đốm lá Theo Chowdhury va ctv. (2015), tác nhân gây bệnh đốm lá là Phomopsis artocarpina, Colletotrichum lagenarium, Septoria artocarpi và các loại nắm khác. Triệu chứng bệnh là trên lá có những đốm hình tròn, màu nâu sam đến đỏ gạch trên cả hai mặt lá. Những đốm này sau đó chuyên thành trung tâm màu trắng xám với ranh giới màu nâu sam.3 Bệnh nắm hồng Tác nhân gây bệnh là nắm Corficium salmonicolor.
Nam tạo thành những mảng mau trắng hoặc hồng trên cành làm lá vàng héo, cành khô.4 Bệnh thối rễ Theo Haq (2006) bệnh do nắm Pythium spendens, Phytophthora sp. nam tan công lên vùng rễ va gây chết cây ở giai đoạn chưa trưởng thành. Theo Phạm Văn Kim (2003) khi bón nhiều phân đạm dưới dạng Co(NH›)a cũng làm hạn chế khả năng đối kháng của nam Trichoderma ssp. và một loại nam có lợi trong việc ức chế sự phát triển của Fusarium sp.
gây bệnh thối rễ.5 Bệnh thán thư Theo Srivasta và Mehra (2004) bệnh phát sinh ở những vườn có ầm độ cao. Nắm Colletotrichum gloeosporiodes có kí chủ rộng trên nhiều loại cây trồng khác nhau là tác nhân gây bệnh. Nấm tan công chủ yếu trên bề mặt của lá gây ton thương, vết bệnh có màu nâu trên lá, cành và trái.6 Bệnh đen xơ trên mít Thái và tác nhần gây bệnh đen xơ trên mít 1.1 Phân bố và thiệt hại Năm 2006, Tổ chức Bảo vệ Thực vật Châu Au (EPPO) tuyên bố rang sự hiện diện của P. stewartii ở một sô địa diém của Nam va Trung Mỹ, Châu Au va Châu A.
Một số nước trồng mít nhiều nhất ở phía Nam châu Á (Ấn Độ, Việt Nam, Sri Lanka, Malaysia, Indonesia, Philippines,.) (Vũ Công Hau, 2000) Hién nay xo den mit Thai gay hai nghiém trong 6 Dong Nam B6 va DBSCL, chu yếu vào những tháng mùa mua. Theo khảo sát, đều có những ghi nhận về thiệt hai đáng ké do bệnh xơ đen mít làm cho trái méo mó, làm giảm chất lượng và độ ngọt trái làm thiệt hại nặng nề cho các nhà vườn dù đã sử dụng rộng rãi nhiều thuốc hóa học (Lê Trí Nhân, 2016). Theo Võ Thị Ngọc Hà và ctv (2023), khi điều tra hiện trạng bệnh đen xơ trên mít Thái tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy bệnh này gây hại nặng vào mùa mưa với tỷ lệ bệnh 10 — 60%. Nếu bị nhiễm bệnh ở mức độ nhẹ sẽ làm mắt trên 50% giá tri thương phẩm của trái mít Thái và nếu bị bệnh nặng hơn có thể không bán được 1.2 Nguyên nhân gay bệnh Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu chứng minh như nghiên cứu của Nguyễn Thành Nhân (2018) vệt đen xuất hiện có thé là do vi khuân.
Theo Trung tâm Thông tin và Ứng dụng Khoa học Công nghệ Hậu Giang (2021), vi khuẩn Pantoea stewartii là nguyên nhân gây bệnh xơ đen trên mít siêu sớm và kết quả của các nghiên cứu này cũng trùng khớp với kết quả đã công bố bệnh xơ đen trên mít tại Malaysia (Zulperi va ctv, 2017) và Mexico (Hernandez — Morales và ctv, 2017) là vi khuẩn Pantoea stewartii gây ra. Bên cạnh đó, theo Võ Thi Ngoc Hà và ctv (2023) sau khi phân lập 4 dòng vi khuẩn từ 10 mẫu mít Thái bị bệnh đen xơ thì các dòng khuẩn này có đặc trưng sinh hóa phù hợp với mô tả của Gapasin và ctv (2014) va Abidin và ctv (2020) đối với vi khuẩn gay bệnh den xơ trên mít Thái. Các chủng vi khuẩn đều có màu trắng, vàng kem, vàng chanh hoặc vàng cam, hình thái khuẩn lạc tròn, phẳng và lồi trên môi trường nuôi cấy, là vi khuân Gram âm, hình que ngắn, hai đầu tù, có kéo sợ với KOH, không di động trong môi trường kị khí. Từ kết quả phân tích trình tự đoạn gen mã đường đa, các chủng vi khuẩn gay bệnh đen xơ trên mít Thái đó được xác định là vi khuẩn Pantoea stewartii subsp.
stewartii Theo Mergaert và ctv (1993), vi khuẩn Pantoea stewartii còn gây ra bệnh héo rũ ngô. Bệnh hiện diện ở nhiều nơi trên thế giới, từ Bắc và Trung Mỹ, Peru, châu Âu, đến Liên Xô và Trung Quốc. Vi khuẩn Pantoea stewartii subsp. stewartii thuộc Giới: Bacteria; Ngành: Proteobacteria, Lớp: Gamma _ Proteobacteria; Bộ: Enterobacteria; Họ: Enterobacteriaceae; Chi: Pantoea; Loài: Pantoea stewartii.
Theo Gapasin va ctv (2014), đã mô ta vi khuan Pantoea stewartii gây bệnh den xơ là vi khuẩn Gram âm với hình thái màu vàng, không hoặc có di động, không sinh bao tử, các tế bào hình que thăng và ngắn, kích thước khoản 0,4 — 0,7 x 0,9 — 2,0 jum, xuất hiện ở chuỗi đơn lẽ và ngắn. Vi khuẩn Pantoea stewartii phát triển và phát tán tốt ở độ 4m và độ ấm của vùng nhiệt đới, chết trong điều kiện khô hạn, ánh sáng chiếu trực tiếp. Vào mùa mưa, âm độ tăng cao không khí 4m ướt, cây thiếu oxy, khó han gắn vết thương vi khuan dé dang xâm nhập vào.