Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ lược về cây mít 1.1 Phân loại, nguồn gốc Cây mít thuộc ngành (Spermatophyta), lớp (Dicotyledonae), bộ (Urticales), ho (Moraceae), chi (Artocarpus), loài (Artocarpus heterophyllus). Mit (Artocarpus heterophyllus Lam.) có nguồn gốc phát sinh ở An Độ, moc ở rừng thường xanh âm, được di thực đến trồng ở các nước Đông Nam A từ lâu đời, trong đó có Việt Nam. Mit là cây ưa sáng vừa phải, thích hợp với đất thoát nước, đất feralit vùng trung du. Tuy nhiên hiện nay cây mít có thê được trồng trọt tại tất cả các vùng sinh thái địa lý của Việt Nam.
Mít là cây lưu niên có tiềm năng to lớn về mặt cung cấp chất bột và các chất dinh dưỡng cho con người (Phạm Hùng Cương và Nguyễn Thị Ngọc Huệ, 2019). Cây mít được trồng phô biến ở các vùng nông thôn. Mit có nhiều loại như mít mật, mít ướt, mít dai, mít tố nữ (đặc sản của miền Nam), ngoài giá trị đinh dưỡng trong âm thực nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc.2 Đặc tính thực vật học Rễ: mít có một rễ cọc dài và các rễ bao xung quanh dày đặc. Rễ bao quanh hình nón khi cây còn nhỏ và đạt đường kính từ 3,5 - 6,7 m sau năm năm.
Ở cây già, bộ rễ phát triển mạnh có khi nổi lên mặt đất bám chắc, cho nên chống gió bão tốt (Vũ Công Hậu, 2000). Theo Nguyễn Văn Kế (2014), rễ mít không những mọc khỏe mà còn mọc sâu có thé lan rộng gấp hai lần đường kính tán vi thế nó có khả năng chịu hạn tốt. Thân: mít là cây thân gỗ có kích thước trung bình, thường đạt chiều cao 10 - 30 m và đường kính gốc 30 - 80 em. Hình dang tán thường là hình nón hoặc hình kim tự tháp.
Thân được bao bọc bởi lớp vỏ dày màu xám sam, phân cành nhiều. Các bộ phận của cây đêu có chât dính và nhựa mủ trăng. Hoa: hoa xuất hiện trên những cuống ngắn, thô, phân nhánh, mọc trên thân chính hoặc trên các cành lớn. Cũng có khi ở cây già, hoa ra cả trên những rễ lớn mọc tri lên trên mặt đất.
Hoa đơn tính, gồm hoa đực và hoa cái, mọc trên cùng một cây (đơn tính đồng chu). Hoa đực nhiều, không có cánh hoa, mọc chen nhau trên cùng một trục gọi là cụm hoa đực hình đuôi sóc, nhỏ, dài, bao phan nồi lên trên bề mat cụm hoa. Hoa cái cũng sinh ra từ cụm, không có cánh, mọc sát nhau trên cùng một trục, to hơn, mỗi cụm có vài trăm hoa, nhụy chẻ đôi, nôi lên trên mặt cụm hoa. Về sau chỉ có một số hoa cái thụ phan va phat triển thành múi mit.
Các hoa còn lại tạo thành xơ. La: chiều dài lá mit từ 12 - 17 cm, chiều rộng lá từ 6,0 - 8,5 cm và chiều dai cuống từ 2,5 - 2,7 em (Nguyễn Văn Kế, 2014). Moc cách, dạng lá đơn, phiến lá dày có các hình dạng như: trái xoan rộng, hình thuôn, trứng ngược hoặc elip. Mặt trên màu xanh đậm bóng, đầu lá ngắn.
Ở những cây non lá thường chia 3 thùy. Lá kèm ở lá non, ôm cành non, sớm rụng. Quả: qua mít to, dai từ 30 - 60 cm, đường kính từ 15 - 30 cm, bên ngoài vỏ có gai. Cả phát hoa cái sau khi thụ phấn sẽ biến thành quả “kép” hay giả quả.
Nếu quá trình thụ phan không đủ, trái mít sẽ có chỗ lõm chỉ toàn xơ. Vỏ trái có màu xanh, vàng xin tới vàng đậm tùy theo giống và có nhiều gai nhỏ. 4 Hạt: hạt mít có màu nâu sáng (vỏ quả trong) được phủ bởi một màng trắng mỏng (vỏ quả ngoài). Hột dài khoảng 2 - 4 cm và day 1,25 - 2 cm và bên trong có màu trắng và giòn.
Khi chín hoàn toàn sẽ có mùi rất khó chịu, giống mùi củ hành bị phân huỷ, khi mở bên trong quả sẽ có mùi của quả dứa hay chuối.3 Đặc điểm một số giống mít Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012), mít chia thành hai nhóm: nhóm mít dai (mít ráo) thịt cứng và giòn và nhóm mít mật (mít ướt) khi chín thịt nhão. Tạm thời có thê xác định giống chính là: Mít Dai quả to, gai đều và thưa, nhiều múi, ít xơ, múi to, dày và giòn, cứng. Cây lâu năm cho tối đa khoảng 20 quả. Mit Mật quả to giống mít dai, khác biệt chủ yếu múi mềm nhão.
Mit Tố nữ quả nhỏ, múi mềm, nhưng không nhão như mít mật, cây rất nhiều quả. Mít Nghệ múi dày, màu vàng như màu nghệ. Quả nhỏ nhưng vỏ mỏng, nhiều múi, ít xơ, nhiều quả, năng suất cao, thích hợp làm mít sây khô. Ngoài ra còn có giống mít Mã Lai, đặc điểm cây và quả giống mít tố nữ, hạt lép hoặc không hạt.
Đặc điểm giống mít Thái Mít Thái là giống cây ngoại được nhập nội vào Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21. Mit Thái có ưu điểm so với mít Nghệ ta là ít nhựa, khi trái chín trái không ngả vàng, múi giòn va dày, có vi ngọt nhẹ, ít xơ hon mít Nghệ ta, khi ăn không bị dính tay. Cây mit Thái được nhiều hộ nông dân trồng 6 ạt vì nó mau ra trái, chỉ từ 12 - 18 tháng là đã có trái thu hoạch, còn mít nghệ có trái chậm hơn từ 6 - 10 tháng. Hiệu quả kinh tế vượt trội hơn nhiều so với cây mít Nghệ ta.4 Yêu cầu sinh thái Nhiệt độ, Am độ: cây mít chỉ thích nghỉ với khí hậu nhiệt đới âm và cận nhiệt đới.
Nhiệt độ thích hợp cho cây Mit sinh trưởng và phát triển thuận lợi là 20 - 32°C. Cây mít nhạy cảm với sương giá. Khi nhiệt độ hạ thấp đến 0°C lá mít sẽ hỏng. Khi nhiệt độ xuống tới - 1°C cành bắt đầu chết, cả cành và cây có thé bị chết ở khi nhiệt độ xuống tới - 2°C (Haq, 2006; Jonathan va ctv, 2016).
Cây mit sinh trưởng tốt nhất ở độ âm không khí từ 70 - 80%. Ở giai đoạn cây ra hoa rất nhạy cảm với độ ẩm. Nếu quá khô hoặc quá 4m ướt đều gây rụng quả non. Các thời kỳ khác thì 4m độ không khí hầu như ít ảnh hưởng (Jonathan va ctv, 2016).
Nước: mít là cây có bộ rễ ăn sâu, nên có khả năng hút nước ở tầng đất sâu, vì vậy cây chịu hạn tốt. Mít có thể chịu được điều kiện khô hạn trong 3 - 4 tháng. Tuy nhiên theo Vũ Công Hậu (2001). chỉ nên trồng mít ở những vùng có lượng mưa trung bình hàng năm từ >1.
Ánh sáng: mít là cây ưa sáng. Số giờ chiếu sáng từ 2.500 giờ/năm là điều kiện lý tưởng cho cây sinh trưởng phát triển cho năng suất cao. Nếu thiếu sáng, cây sẽ không có quả (Cao Việt Hà, 2021). Dat đai: cây mít phát triển tốt nhất trong khu vực vĩ độ 25° Bắc và Nam của xích đạo.
Do độ cao chỉ phối khí hậu nên ảnh hưởng của độ cao nên cây không thích hợp với độ cao lớn. Ở An Độ, Mit phát triển mạnh ở phía nam dãy Himalaya ở độ cao dưới 1. Tuy nhiên ở độ cao >1.200 m mit có chất lượng kém và chỉ có thé sử dung dé nau ăn. Chất lượng quả tốt hơn ở độ cao thấp hon, từ 152 - 213 m (Haq, 2006).5 Giá trị của cây mít Giá trị về dinh dưỡng: bộ phận trên cây mít có nhiều ý nghĩa về dinh dưỡng nhiều nhất là quả mít.
Quả mít được đánh giá là loại trái cây lành mạnh cung cấp một lượng calo vừa phải, nhiều chất xơ, khoáng chất, vitamin và chất chống oxy hoá. Trong quả mít chứa 10 loại vitamin và khoáng chất khác nhau như Canxi, Phốt pho, Kali, Mangan, Vitamin A, B2, C. Gia trị về kinh tế: hiệu quả kinh tế trong việc trồng mít mang lại giá trị kinh tế cao hon han các cây trồng khác. Mit được sử dụng nhiều trong chế biến trong nên công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng như nước ép, mít say, huong vi banh keo xuat khẩu sang các quốc gia trên thé giới, mang lại gia trị lớn cho các doanh nghiệp.6 Một số dịch hại trên cây mít Thái Sâu hại Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012), các loại sâu hại chủ yêu trên cây mít gôm có các loại: Bọ cánh cam (bọ hung xanh, Anomala cupripes): tac hai do bọ trưởng thành ban đêm bay ra ăn lá làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây khi còn nhỏ.
Sâu đục quả (Glyphodes caesails): sâu non đục vào trong quả ăn phan thịt dưới vỏ, bên ngoai lỗ đục có thải ra đám phân màu đen. Gây hại nặng làm giảm chất lượng và sản lượng. Quả có thể bị hư hỏng hay bị rụng sớm. Không nên dùng biện pháp xử lý thuốc hóa học mà dùng biện pháp sinh học dé phòng trừ sự gây hại hay bao quả vào cuối giai đoạn quả rụng sinh lý.
Rệp phan (Planococcus lilacinus): rệp trưởng thành và rệp non tập trung thành đám ở mặt dưới lá và cuống qua, hút nhựa làm cho lá vàng, quả phát triên kém. Rệp còn tạo điều kiện cho nấm bô hong phát triển. Rệp phát triển nhiều vào các tháng mùa khô. Vòng đời 25 - 30 ngày.
Bệnh hại Theo Nguyễn Mạnh Chinh và Nguyễn Đăng Nghĩa (2012), bệnh hại trên cây mít chủ yếu gồm có các bệnh: Bệnh nút thân xì mủ: vườn mít qua 4m ướt và có nhiều loại sâu hai là cơ hội tốt cho nam Phytophthora xâm nhập. Bệnh gây hại trên thân và các cành lớn. Vết bệnh lúc đầu là những đốm thâm đen hơi ướt. Về sau vết bệnh lớn làm vỏ cây khô, nứt và có mủ xì ra, lâu ngày nam ăn sâu vào trong phan gỗ, cây sinh trưởng kém, lá vàng, cành bị khô chết.
Bệnh thôi quả: bệnh do nam Rhizopus nigricans gây ra. Bệnh chủ yêu hại hoa va quả mít non, nam làm hoa và quả bị thôi đen, trên đó sinh các sợi nam mau đen mọc tua tủa. Bệnh phát triên nhiêu trong mùa mưa. Bệnh dom nâu: Tác nhân là nam Phomaopsis artocarpina.
Triệu chứng: bệnh chủ yếu hại lá. Vết bệnh hình tròn, lúc đầu nhỏ, màu nâu, sau lớn lên đường kính 10 - a 15 mm, ở giữa màu xám tro, trên đó có những hạt nhỏ màu đen xếp thành các đường vòng đồng tâm, đó là các 6 bào tử. Bệnh nam hồng: tác nhân Nam Corticium salmonicolor gây ra. Triệu chứng: nam tạo thành những mảng màu trắng hoặc hồng trên cành làm lá vàng héo, cành khô.2 Bệnh đen xơ và tác nhân gây bệnh đen xơ trên cây mít Thái 1.1 Thời điểm xuất hiện và triệu chứng bệnh siêu sớm ở huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang nhận thấy thời gian trái xuất hiện đen xơ tập trung vào khoảng thời gian tháng 9 - 10 dương lịch.