Đặt vấn đề Chăn nuôi là một trong hai lĩnh vực quan trọng trong nền nông nghiệp (chăn nuôi, trồng trọt), nó không những đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng hàng ngày của người dân trong xã hội mà còn là nguồn thu nhập quan trọng của hàng triệu người dân. Đặc biệt nông nghiệp lại có ý nghĩa quan trọng đối với nước ta khi có tới hơn 70% dân cư làm nông nghiệp. Sự gia tăng của các sản phẩm nông nghiệp kết hợp với nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao của cuộc sống đã thúc đẩy ngành chăn nuôi phát triển mạnh mẽ. Sự phát triển bùng nổ của ngành chăn nuôi để đáp ứng các nhu cầu là một tất yếu.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành nông nghiệp như hiện nay các ngành đều đạt mục tiêu nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm, riêng ngành chăn nuôi xã Ngọc Lương có những định hướng, đẩy mạnh phát triển chăn nuôi cho phù hợp với những thế mạnh về nông lâm nghiệp của xã. Hiện nay, tại xã Ngọc Lương mô hình chăn nuôi hộ gia đình diễn ra tự phát nhỏ lẻ nên công nghệ và kỹ thuật sản xuất còn mang tính chất chắp vá, không đồng bộ chưa giải quyết được các vấn đề môi trường căn bản, chưa đảm bảo vệ sinh thú y nên chất thải ra sông, rạch, ao… gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí. Mặc dù vậy hiện nay, chưa có quy định chung để hạn chế các tác động chất thải chăn nuôi tới môi trường. Các giải pháp giảm thiểu còn phụ thuộc vào điều kiện của từng địa phương.
Ở Việt Nam nói chung và xã Ngọc Lương nói riêng, khía cạnh môi trường ngành chăn nuôi mới được chú trọng một vài năm gần đây khi mà phát triển chăn nuôi đang ngày một gia tăng. n 2 Theo quan điểm hiện nay phát triển bền vững là phát triển kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường. Với việc thải ra các loại chất thải đã và đang là mối đe dọa tới hệ sinh thái và con người, đồng thời nó trở nên cần thiết và bức bách. Bất kỳ hộ chăn nuôi nào cũng phải có trách nhiệm xử lý chất thải khi thải ra môi trường.
Xuất phát từ những lý do trên và sự nhất trí của ban chủ nhiệm khoa Môi trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên dưới sự hướng dẫn của T.S: Phan Thị Thu Hằng em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và tình hình xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn xã Ngọc Lương huyện Yên Thủy tỉnh Hòa Bình” 1. Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng chăn nuôi trên địa bàn xã Ngọc Lương, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. - Đánh giá tình hình xử lý chất thải chăn nuôi trên địa bàn. - Đề xuất một số giải pháp trong xử lý chất thải chăn nuôi.
Yêu cầu của đề tài - Điều tra thu thập thông tin tại các hộ chăn nuôi trên địa bàn xã. - Thông tin và số liệu thu thập chính xác, trung thực, khách quan. - Các giải pháp đưa ra có tính khả thi cao, phù hợp với điều kiện của địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Khóa luận giúp cho sinh viên có thể vận dụng được các kiến thức đã học vào trong thực tiễn. n 3 - Đồng thời, khóa luận cũng giúp sinh viên nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Tăng cường trách nhiệm của lãnh đạo xã trước ảnh hưởng của hoạt động chăn nuôi đến môi trường. - Ứng dụng vào thực tế sản xuất góp phần cải thiện môi trường.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam và tỉnh Hòa Bình 2. Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam Theo đánh giá của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO): Châu Á sẽ trở thành khu vực sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi lớn nhất. Chăn nuôi Việt Nam, giống như các nước trong khu vực phải duy trì mức tăng trưởng cao nhằm đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước và từng bước hướng tới xuất khẩu.
Trong thời gian qua, ngành chăn nuôi của nước ta đã có những biến động nhưng vẫn phát triển.1: Số lƣợng gia súc gia cầm ở VN Số lượng (nghìn con) Năm Gia cầm Trâu Bò Ngựa Dê, cừu Lợn ( Triệu con) 2008 2.5 ( Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2012)[7] Đặc điểm nổi bật nhất của chăn nuôi ở Việt Nam là quy mô chăn nuôi còn rất nhỏ, chăn nuôi công nghiệp mặc dù đang có xu thế phát triển mạnh, nhưng còn chiếm tỷ trọng rất thấp. Trong xu thế chuyên môn hóa sản xuất, hình thức chăn nuôi tập trung ngày càng phổ biến ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới. Tình hình chăn nuôi ở tỉnh Hòa Bình Bảng 2.2: Số lƣợng gia súc gia cầm tỉnh Hòa Bình Số lượng ( con) Năm Trâu Bò Lợn Gà Vịt Dê 2006 122.833 ( Nguồn: Niên giám thống kê Hòa Bình năm 2009)[4] Với thế mạnh là vùng cao, đồi núi có diện tích đồng cỏ rộng Hòa Bình đã phát triển mạnh mẽ nghành chăn nuôi Số lượng gia súc gia cầm ở Hòa Bình có sự thay đổi qua các năm. Số lượng lợn, gà, vịt có xu hướng tăng mạnh qua các năm đặc biệt là lợn và gà.
Cho thấy chăn nuôi trở thành một ngành kinh tế quan trọng có khả năng giúp cải thiện kinh tế cho người dân. Đặc điểm của chất thải chăn nuôi 2. Nguồn phát sinh chất thải chăn nuôi Trong quá trình chăn nuôi, chất thải chăn nuôi phát sinh bao gồm: - Chất thải do bản thân vật nuôi: phân, nước tiểu, lông, vẩy da,…. - Nước: từ quá trình tắm rửa gia súc, vệ sinh chuồng trại, vệ sinh vật dụng trong chăn nuôi,… - Thức ăn thừa, thức ăn rơi vãi, vật dụng chăn nuôi, vật phẩm thú y, vỏ bao đựng thức ăn,… - Xác vật nuôi chết.
- Khí thải từ chuồng nuôi: từ hố phân, nước thải, nơi chế biến thức ăn cho gia súc n 6 - Tiếng ồn phát sinh chủ yếu từ chuồng nuôi gia súc. Thành phần và tính chất của chất thải chăn nuôi 2. Chất thải rắn ( Phân) Phân là sản phẩm thừa của quá trình tiêu hóa thức ăn của gia súc. Phân gồm những thành phần: - Là những dưỡng chất không tiêu hóa được hoặc những dưỡng chất thoát khỏi sự tiêu hóa vi sinh hay các men tiêu hóa (protein không tiêu hóa được, …), axit amin thoát khỏi sự hấp thu (được thải qua nước tiểu: axit uric (ở gia cầm), urea (gia súc)), các khoáng chất dư thừa cơ thể không sử dụng như P2O5 , K2O, CaO, MgO, … phần lớn xuất hiện trong phân.
- Các thức ăn bổ sung, thuốc kích thích (thường chứa đồng, kẽm), các kháng sinh hay các men. - Các chất cặn bã trong dịch tiêu hóa (trypsin, pepsin…). - Các mô tróc ra từ các niêm mạc của ống tiêu hóa và chất nhờn theo phân ra ngoài. - Vật dính vào thức ăn: bụi, tro… - Các loại vi sinh vật bị nhiễm trong thức ăn, trong ruột bị tống ra ngoài.
Ngoài phân trong quá trình chăn nuôi còn sinh ra một lượng lớn thức ăn thừa của gia súc rơi vãi, vật liệu lót chuồng và xác súc vật chết, nhau thai… Chúng có thành phần đa dạng hầu hết là các chất hữu cơ dễ phân hủy như cám, ngũ cốc, bột cá, bột tôm… Lượng phân thải ra tùy thuộc vào giống, loài, tuổi, khẩu phần ăn và trọng lượng gia súc.3: Lƣợng phân thải ra hàng ngày Trọng lượng gia súc Lượng phân ( kg/ngày) Dưới 10kg 0.0 Từ 100 kg trở lên 5.4: Thành phần hóa học của phân gia súc Đặc tính Giá trị ( g/kg) PH 6.95 Vật chất khô 213 – 342 NH4-N 0.11 Các axit béo mạch ngắn 3.47 ( Nguồn: Trương Thanh Cảnh và CTV, 1997 – 1998)[1] Ngoài ra trong phân gia súc còn chứa nhiều virut, vi trùng, ấu trùng, trứng giun sán…có hại cho sức khỏe của con người và gia súc. Các loại này có thể tồn tại từ vài ngày đến vài tháng trong phân, trong nước thải và trong đất. Nước thải Nước thải từ chăn nuôi bao gồm hỗn hợp nước tiểu, nước rửa chuồng, nước tắm vật nuôi và khối lượng nước thải rất lớn. Nước thải chăn nuôi chứa chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, nitơ, photpho, và các thành phần khác, đặc biệt là vi sinh vật gây bệnh (loại vi trùng, virut và trứng ấu trùng giun sán gây bệnh).
n 8 Trong thành phần chất rắn của nước thải thì hợp chất hữu cơ chiếm 70 - 80% gồm các hợp chất hydratcarbon, protit, axit amin, chất béo và các dẫn xuất của chúng có trong phân và thức ăn thừa. Hầu hết các chất hữu cơ dễ bị phân hủy.Các chất vô cơ chiếm 20-30% gồm cát, đất, muối, urê, omonium, muối clorua, SO4…Các hợp chất trong phân và nước thải dễ dàng bị phân hủy. Nồng độ chất ô nhiễm trong nước thải phụ thuộc vào lượng thức ăn rơi vãi, mức độ thu gom phân, phương thức thu gom chất thải trong chuồng hay lượng nước sử dụng khi vệ sinh chuồng trại hoặc tắm rửa vật nuôi. Nước tiểu Cũng như phân gia súc số lượng và tính chất của nước tiểu tùy thuộc vào độ tuổi và chế độ dinh dưỡng của gia súc.5: Lƣợng nƣớc tiểu thải hàng ngày Trọng lượng gia súc Lượng nước tiểu (kg/ngày) Dưới 10kg 0.0 Từ 100 kg trở lên 4.0 ( Nguồn: Wendy Powers (2004))[14] Nước tiểu gia súc có thành phần chủ yếu là nước ( chiếm trên 90% tổng khối lượng nước tiểu), ngoài ra còn có hàm lượng N và ure khá cao nên có thể dung để bổ sung đạm cho đất và cây trồng.
Nước thải từ việc tắm rửa gia súc, vệ sinh chuồng trại, máng ăn uống… Nước thải chăn nuôi có hàm lượng chất rắn lơ lửng khá cao cũng như bị ô nhiễm hữu cơ rất lớn. Đây là một nguồn gây ô nhiễm rất nặng chứa các chất hữu cơ, vô cơ có trong phân nước tiểu và thức ăn.6: Tính chất nƣớc thải chăn nuôi Đặc tính Đơn vị Giá trị Độ đục Mg/l 420 – 550 o Nhiệt độ C 26 – 30 PH Mg/l 6.9 Độ mặn Mg/l 200 – 500 COD Mg/l 5000 – 12000 DO Mg/l 0 – 0.3 Tổng P Mg/l 36 – 72 Tổng N Mg/l 220 – 460 Dầu mỡ Mg/l 5 – 58 SS Mg/l 180 – 450 NH4+ Mg/l 15 -284 E.Coli MPN/100 ml 12.3x103 Trứng giun sán Trứng/l 28 – 280 ( nguồn: Trương Thanh Cảnh và CTV, 1997 – 1998)[1] 2. Khí thải Chăn nuôi phát thải nhiều loại khí thải (CO2, NH3, CH4, H2S,. thuộc các loại khí nhà kính chính ) do hoạt động hô hấp, tiêu hóa của vật nuôi, do ủ phân, chế biến thức ăn, .