MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một nƣớc phần lớn dân cƣ sống bằng canh tác nông nghiệp nên ngành nông nghiệp đƣợc coi là ngành quan trọng trong ngành kinh tế của nƣớc ta. Hiện nay dân số gia tăng nhanh trên thế giới cũng nhƣ ở Việt Nam, kéo theo hàng loạt những nhu cầu của con ngƣời tăng lên. Đặc biệt là lƣơng thực, thực phẩm luôn là vấn đề cấp thiết đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Nƣớc ta là một nƣớc có khí hậu nhiệt đới gió mùa đƣợc thiên nhiên ƣu đãi nên thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng, nhƣng đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Để giảm thiệt hại do dịch hại gây ra, con ngƣời phải đầu tƣ thêm kinh phí để tiến hành các biện pháp phòng trừ, trong đó biện pháp hóa học đƣợc coi là quan trọng. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất trong nông nghiệp quá liều lƣợng cũng nhƣ chƣa hiểu biết về vấn đề an toàn thực phẩm là những nguyên nhân gây ngộ độc thực phẩm. Theo thống kê của tổ chức y tế thế giới (WHO, 1982) mỗi năm thế giới có tới một nửa triệu ngƣời bị ngộ độc do thuốc trừ sâu, hóa chất bảo vệ thực vật mà tập trung hầu hết ở các nƣớc đang và kém phát triển.
Tuy nhiên, ngay cả đối với quốc gia phát triển thì ô nhiễm thực phẩm do hóa chất sử dụng trong nông nghiệp cũng trở thành vấn đề cấp bách [10]. Việc lạm dụng và thói quen thiếu khoa học trong bảo quản và sử dụng hóa chất BVTV của ngƣời dân đã gây tác động rất lớn đến môi trƣờng. Nhiều nhà nông do thiếu hiểu biết đã thực hiện phƣơng châm “phòng hơn chống” đã sử dụng thuốc trừ sâu theo kiểu phòng ngừa định kỳ vừa tốn kém lại tiêu diệt nhiều loài có ích, gây kháng thuốc với sâu bệnh, càng làm cho sâu hại phát triển thành dịch và lƣợng thuốc trừ sâu đƣợc sử dụng càng tăng. Nhiều năm qua, vấn đề ô nhiễm môi trƣờng trong sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta đã 2 đƣợc các nhà khoa học, nhà BVMT quan tâm.
Tuy nhiên, thực trạng này ngày càng trầm trọng và đã trở thành “vấn nạn” vì luôn thiếu các biện pháp và chế tài cụ thể. Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên và đƣợc sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trƣờng, Ban chủ nhiệm Khoa Môi trƣờng và sự hƣớng dẫn trực tiếp của thầy PGS. Lương Văn Hinh, em thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiện trạng việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiêp tại xã Cao Ngạn - TP. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài Đánh giá hiện trạng quản lý và sử dụng hóa chất BVTV trong khu vực sản xuất nông nghiệp tại xã Cao Ngạn - TP.Thái Nguyên, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong công việc quản lý và sử dụng hóa chất BVTV trong mô hình sản xuất nông nghiệp tại địa phƣơng. Yêu cầu của đề tài - Số liệu, tài liệu thu thập phải khách quan, trung thực, chính xác. - Đề xuất các giải pháp kiến nghị phải có tính khả thi, thực tế, phù hợp với điều kiện thực tế của mô hình. - Thu thập các thông tin về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Cao Ngạn.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học của đề tài - Là điều kiện để củng cố kiến thức đã học trên lý thuyết , học hỏi thu thâ ̣p đƣơ ̣c nhƣ̃ng kinh nghiê ̣m và bài ho ̣c quý báu tƣ̀ thƣ̣c tiễn sản xuấ t. - Nắm bắt công tác quản lý và khái quát đƣợc hiện trạng sử dụng thuốc BVTV ở xã Cao Ngạn để đề xuất đƣợc các giải pháp quản lý phù hợp góp phần vào việc quản lý môi trƣờng ở xã Cao Ngạn nói riêng và tỉnh Thái Nguyên nói chung. 3 - Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao đƣợc phƣơng pháp làm việc có khoa học có cơ sở, giúp sinh viên biết tổng hợp bố trí thời gian hợp lý trong công việc.
Ý nghĩa thực tiễn - Ý nghĩa trong hoc tập và nghiên cứu khoa học: + Khái quát mức độ nguy hiểm của hóa chất BVTV đối với sức khỏe con ngƣời và hệ sinh thái ở xã Cao Ngạn và đề xuất các giải pháp quản lý phù hợp. + Củng cố kiến thức cơ sở cũng nhƣ kiến thức chuyên ngành, tạo điều kiện tốt hơn phục vụ cho công tác sau này. - Ý nghĩa trong thực tiễn: + Đánh giá đƣợc hiện trạng của việc sử dụng thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp tại xã Cao Ngạn. + Đƣa ra đƣợc các tác động của việc sử dụng thuốc bảo vệ thực trong sản xuất nông nghiệp đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời.
+ Tạo cơ sở đề xuất đƣợc các biện pháp quản lý và xử lý việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách phù hợp. + Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục về bảo vệ môi trƣờng cho nhân dân địa phƣơng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở Pháp lý của đề tài - Nghị định 58/2002/NĐ – CP ngày 03/06/2002 của Chính phủ ban hành điều lệ Bảo vệ thực vật, điều lệ kiểm dịch thực vật, điều lệ quản lý thuốc BVTV.
- Quyết định số 50/QĐ-BNN ngày 25 tháng 3 năm 2003 của Bộ Nông nghiệp và PTNT về việc kiểm định chất lƣợng, dƣ lƣợng thuốc bảo vệ thực vật và khảo nghiệm thuốc bảo vệ thực vật nhằm mục đích đăng ký tại Việt Nam. - Quyết định số 184/2006/QĐ-TTg ngày 10/8/2006 của Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt kế hoạch quốc gia thực hiện Công ƣớc Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy. - Quyết định 63/2007/QĐ-BNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định về Quản lý thuốc BVTV ban hành theo Quyết định 89/2006/QĐ-BNN ngày 02/10/2006 của Bộ trƣởng Bộ NN&PTNT. - Thông tƣ số 77/2009/TT-BNN&PTNT quy định về kiểm tra nhà nƣớc chất lƣợng thuốc BYTV nhập khẩu; Danh mục thuốc BVTV đƣợc phép sử dụng, hạn chế sử dụng và cấm sử dụng ở Việt Nam của Bộ NN& PTNT ban hành hàng năm; Các Quy chuẩn kỹ thuật, Tiêu chuẩn Việt Nam, Tiêu chuẩn chất lƣợng thuốc BVTV về cửa hàng buôn bán thuốc BVTV, quy tình kiểm tra sử dụng thuốc BVTV trên cây trồng.
- Thông tƣ số 38/2010/TT-BNN&PTNT ngày 28/06/2010 của Bộ NN&PTNT về Quản lý thuốc BVTV quy định: Từ đăng ký, xuất nhập khấu, sản xuất, gia công, sang chai, đóng gói, ghi nhãn, sử dụng, vận chuyển, bảo quản, quảng cáo, khảo nghiệm, kiểm định chất lƣợng và dƣ lƣợng thuốc BVTV. - Thông tƣ 12/2011/TT – BTNMT ngày 14 tháng 4 năm 2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng về quản lý chất thải nguy hại. - Thông tƣ 03/2013/TT – BNN&PTNT ngày 11 tháng 1 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành về Quản lý thuốc BVTV. 5 - Thông tƣ 14/2013/TT – BNN&PTNT ngày 25 tháng 02 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện sản xuất kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật.
- Thông tƣ 21/2013/TT – BNN&PTNT ngày 17 tháng 4 năm 2013 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành về Danh mục thuốc BVTV đƣợc phép sử dụng, hạn chế sử dụng, cấm sử dụng ở Việt Nam. Giới thiệu chung về thuốc BVTV 2. Khái niệm về thuốc BVTV Thuật ngữ “Thuốc bảo vệ thực vật” (TBVTV) đƣợc dùng nhƣ “ Hóa chất bảo vệ thực vật” (HCBVTV) hay “chất trừ vật hại hay dịch hại”, ngƣời nông dân quen gọi là “thuốc trừ sâu” dùng trong nghành nông nghiệp nƣớc ta. Dù với bất kì tên gọi nào thì các chất trên đều có tác hại tới sức khỏe con ngƣời (Lê Huy Bá, (2008) ) [1].
Thuốc bảo vệ thực vật: là những chế phẩm có nguồn gốc hóa chất, thực vật, động vật, vi sinh vật và các chế phẩm khác dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật. Gồm: các chế phẩm dùng để phòng trừ sinh vật gây hại tài nguyên thực vật; các chế phẩm điều hòa sinh trƣởng thực vật; chất làm dụng hay khô lá; các chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loại sinh vật gây hại tài nguyên thực vật để gây hại.2 Phân loại thuốc BVTV Việc phân loại thuốc BVTV có thể thực hiện theo nhiều cách nhƣ phân loại theo đối tƣợng phòng trừ (thuốc trừ sâu, thuốc trừ bệnh,…) hoặc phân loại theo gốc hóa học (nhóm clo hữu cơ, nhóm lân hữu cơ,…). Các thuốc trừ sâu có nguồn gốc khác nhau thì tính độc và khả năng gây độc khác nhau: 2.1 Phân loại dựa trên đối tượng sinh vật hại. Theo Nguyễn Thị Hồng Hạnh,(2006) [6] thì có rất nhiều cách phân loại khác nhau và đƣợc phân ra nhƣ sau: Thuốc trừ sâu (insecticide): Gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong 6 môi trƣờng.
Chúng đƣợc dùng để diệt trừ hay ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con ngƣời. Trong thuốc trừ sâu dựa vào khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trƣởng ngƣời ta còn chia ra: Thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non. Thuốc trừ bệnh (Fungicide): Thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học (vô cơ hoặc hữu cơ), sinh học, có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất… Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trƣớc khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công. Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicides) và trừ vi khuẩn (Bactericides).
Thuốc trừ chuột (Rodenticide): Là những hợp chất vô cơ, hữu cơ, hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phƣơng thức tác động rất khác nhau, đƣợc dùng để diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và các loài gậm nhấm. Chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đƣờng vị độc và xông hơi. Thuốc trừ nhện (Acricide): Những chất đƣợc dung chủ yếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ. Hầu hết các thuốc trừ nhện hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc.
Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): Các chất xông hơi và nội hấp đƣợc dùng để xử lý đất trƣớc tiên trừ tuyến trùng rễ cây trồng, trong đất, hạt giống và cả trong cây.