MỞ ĐẦU Đất là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, các cơ sở kinh tế, xã hội và an ninh, quốc phòng. Đồng thời đất là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng, có vị trí cố định trong không gian, là hợp phần quan trọng của môi trường, là tư liệu chủ yếu để sản xuất các sản phầm từ cây trồng. Chính vì vậy, công tác điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai rất được chú trọng nhằm mô tả các đặc trưng và giá trị sử dụng đất trên các vùng lãnh thổ khác nhau. Cũng như các nước đang phát triển khác, Việt Nam đã và đang đối mặt với áp lực tăng dân số cũng như nhu cầu lương thực, việc duy trì và mở rộng diện tích đất nông nghiệp ở nước ta là một nhu cầu cấp bách, nhưng đồng thời cũng phải có chiến lược sử dụng đất hợp lý để ngăn chặn suy thoái tài nguyên đất.
Sử dụng đất hợp lý và lâu bền là một vấn đề đang được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm giải quyết, đặc biệt ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam, nơi mà quá trình khai thác tài nguyên đất đang diễn ra ở mức độ báo động. Vì vậy, việc đánh giá đúng thực trạng nguồn tài nguyên đất phục vụ sử dụng đất bền vững và mang lại hiệu quả kinh tế cao là một vấn đề cấp bách ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Hà Giang đang trong thời kỳ điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao trong những năm gần đây, bình quân năm khoảng 12,7%.
Sự chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế cao đã gây áp lực lớn đối với đất đai: việc chuyển đổi mục đích một diện tích lớn đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa; đất rừng phòng hộ; rừng đặc dụng,… cho các mục đích phi nông nghiệp; đất cho phát triển công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng còn chưa được giám sát chặt chẽ. Bên cạnh đó, những tác động bất lợi của biến đổi khí hậu như: lũ lụt, hạn hán, sạt lở hàng năm diễn ra ngày càng phức tạp làm cho nguy cơ suy thoái đất tăng, hạn chế khả năng sử dụng bền vững. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn nêu trên và mong muốn góp phần vào sự phát triển của tỉnh Hà Giang, tôi đã chọn đề tài “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp phục vụ cho phát triển bền vững ở tỉnh Hà Giang” nhằm xác định được số lượng, chất lượng đất và phân bố của từng loại hình sử dụng đất nông nghiệp, làm cơ sở cho việc nghiên cứu, đề xuất về trình tự, nội dung, phương pháp đánh giá tiềm năng đất đai theo hướng sử dụng đất bền vững. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản sử dụng trong đề tài + Đất (Soil): là vật thể tự nhiên đặc biệt hình thành do tác động tổng hợp của các yếu tố sinh vật, khí hậu, đá mẹ, địa hình, thời gian và tác động của con người. + Đất đai (Land): một vùng đất xác định về mặt địa lý, là một thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó như: không khí, đất, điều kiện địa chất, thủy văn, thực vật và động vật cư trú, những hoạt động trước đây của con người, ở chừng mực mà thuộc tính này ảnh hưởng có ý nghãi tới việc sử dụng vùng đất đó của con người hiện tại và trong tương lai. + Đơn vị bản đồ đất đai (Land Mapping Unit – LMU): là một vùng đất đai với các tính chất riêng biệt được xác định trên bản đồ.
+ Đặc trưng đất đai (Land Quanlity – LQ): là thuộc tính của đất có ảnh hưởng tới tính bền vững đất đai cho một loại sử dụng cụ thể. + Loại hình sử dụng đất đai chính (Major kind of land use): là một sự phân chia chủ yếu đối với sử dụng đất ở nông thôn. Thí dụ như nông nghiệp nhờ nước trời, nông nghiệp tưới, đồng cỏ, rừng, cây trồng hàng năm, cây trồng lâu năm, chuyên trồng lúa,… + Loại hình sử dụng đất đai (Land Uniliztion Type – LUT): một kiểu sử dụng đất đai cụ thể được miêu tả và xác định theo mức độ chi tiết từ các loại hình sử dụng đất chính. + Hệ thống sử dụng đất đai (Land Use System – LUS): là một tổ hợp của các loại sử dụng đất và đơn vị đất đai LUS = LUT + LMU + Yêu cầu sử dụng đất đai (Land Use Requirement - LUR): Yêu cầu sử dụng đất đai được định nghĩa như là những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công và bền vững một loại hình sử dụng đất.
Những yêu cầu sử dụng đất đai thường được xem xét từ chất lượng đất đai của vùng nghiên cứu. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cơ sở lý luận của việc đánh giá tiềm năng đất theo hƣớng sử dụng đất bền vững Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định nghĩa về đất. Có quan điểm cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian” [7].
Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh. Do đó, sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên. Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người.
Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi quá trình sản xuất. Theo Luật đất đai 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác [15]. Đất đai vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất. Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và giúp cây trồng tạo nên sản phẩm [8]. Năm 2008, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115 nghìn ha, dân số là 86210,6 nghìn người, mật độ dân số 260 người/km2. Bình quân diện tích đất tự nhiên là 3889 m2/người đứng thứ 9 trong khu vực. Trong đó đất nông nghiệp chỉ có 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 24997,2 nghìn ha, bình quân diện tích đất nông nghiệp là 2899,55 m2/người [17].
Năm 2008, giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 156681,9 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 122,37 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 30938,6 tỷ đồng và nuôi trồng thủy sản là 3367,6 tỷ đồng. Trong trồng trọt, cây lương thực đạt giá trị sản xuất là 70059,8 tỷ đồng; cây rau đậu đạt 10560,4 tỷ đồng; cây công nghiệp là 31015,4 tỷ đồng và cây ăn quả đạt 9083,7 tỷ đồng. Trong năm 2008, diện tích cây lương thực có hạt là 8542 nghìn ha, cây công nghiệp hàng năm là 805,8 nghìn ha, cây công nghiệp lâu năm là 1886,1 nghìn ha và cây ăn quả là 775,3 nghìn ha [17]. Đất đai có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền.
Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội như (dân số, lao động, giao thông, thị trường). Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng. Trong sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế, nếu được bố trí sử dụng hợp lý thì sức sản xuất của đất đai sẽ ngày càng tăng lên. Trước áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích và chất lượng đất sản xuất nông nghiệp.
Vì vậy, định hướng sử dụng đất đai một cách hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia. Đặc điểm sử dụng đất nông nghiệp vùng khí hậu nhiệt đới Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất nông nghiệp không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%, châu Đại Dương chiếm 6%.
Bình quân đất nông nghiệp trên đầu người trên toàn thế giới là 12000 m2. Trong đó 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ở Mỹ 2000 m2, ở Bungari 7000 m2, ở Nhật Bản 650 m2. Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân đất canh tác trên đầu người của các nước như sau: Indonesia 0,12 ha; Malaysia 0,27 ha; Philipin 0,13 ha; Thái Lan 0,42 ha; Việt Nam 0,1 ha [4].