Đặt vấn đề Đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội. Không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông – lâm nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp là hợp thành của chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững và cân bằng sinh thái. Do sức ép của đô thị hoá và sự gia tăng dân số, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng.
Con người đã và đang khai thác quá mức mà chưa có biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai. Hiện nay, việc sử dụng đất đai hợp lý, xây dựng một nền nông nghiệp sạch, sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng đản bảo môi trường sinh thái ổn định và phát triển bền vững đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Thực chất của mục tiêu này chính là vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội và môi trường. Đứng trước thực trạng trên, nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất đó làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của Quốc gia và của từng địa phương.
Trong những năm qua, nền sản xuất nông nghiệp đã được chú trọng đầu tư phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá. Năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Song trong nền sản xuất nông nghiệp còn tồn tại nhiều yếu điểm đang làm giảm sút về chất lượng do quá trình khai thác sử dụng không hợp lý: trình độ khoa học kỹ thuật, chính sách quản lý, tổ chức sản xuất còn hạn chế, tư liệu sản xuất giản đơn, kỹ thuật canh tác truyền thống, đặc biệt là việc độc canh cây lúa ở một số nơi đã không phát huy được tiềm năng đất đai mà còn có xu thế làm cho nguồn tài nguyên đất có xu hướng bị thoái hoá n 2 Nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá đúng mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo Th.S Trần Thị Mai Anh, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp giai đoạn 2011 – 2013 và định hướng sử dụng đất đến năm 2015 tại xã Vĩnh Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái”.
Mục đích của đề tài - Tìm hiểu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội có liên quan với tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương. - Đánh giá hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của địa phương giai đoạn 2011 – 2013. Tìm ra xu thế và nguyên nhân gây biến động trong sử dụng đất nông nghiệp của xã. - Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp tại địa phương đạt hiệu quả.
Từ đó đưa ra định hướng sử dụng đất nông nghiệp tại xã đến năm 2015. Ý nghĩa của đề tài 3. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Đề tài sẽ là cầu nối giữa học tập và thực tế, là cơ hội tiếp cận với thực tế để hiểu rõ hơn về bản chất vấn đề, có lên quan với chuyên ngành QLĐĐ. - Qúa trình thực hiện đề tài giúp cho bản thân trưởng thành hơn về chuyên môn cũng như tư duy, kỹ năng làm việc độc lập và làm việc theo nhóm.
Ý nghĩa trong thực tiễn Trên cơ sở kết quả đánh giá thực trạng tình hình sử dụng đất nông nghiệp từ những thuận lợi, khó khăn và hạn chế đã xác định giúp cho địa phương tham khảo để có định hướng sử dụng đất giai đoạn đến năm 2015 đạt hiệu quả hơn. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp tại xã Vĩnh Lạc, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. - Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu đánh giá tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại xã Vĩnh Lạc, giai đoạn (2011– 2013). n 4 PHẦN 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Cơ sở khoa học của việc sử dụng hợp lý đất đai 1. Đất đai và các chức năng của đất đai Luật đất đai năm 2003 [3] xác định “ Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các khu kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng”. Mặt khác, “Đất đai” về mặt thuật ngữ khoa học có thể hiểu theo nghĩa rộng như: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt như: khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hình, mặt nước (hồ, sông suối, đầm lầy…), các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và trong lòng đất, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (san nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường xã, nhà cửa …)”. Như vậy , “Đất đai” là một khoảng không gian có giới hạn, theo chiều thẳng đứng (gồm khí hậu của bầu khí quyển, lớp đất phủ bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, tài nguyên nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất), theo chiều năm ngang – trên mặt đất (là sự kết hợp giữa thổ nhưỡng, địa hình, thủy văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác) giữ vai trò quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất cũng như cuộc sống của xã hội loài người.
Các chức năng của đất đai đối với hoạt động sản xuất và sinh tồn của xã hội loài người được thể hiện theo các mặt sau: - Chức năng sản xuất: đất đai là cơ sở rất nhiều hệ thống hỗ trợ cuộc sống của con người hoặc trực tiếp hoặc thông qua chăn nuôi và thông qua n 5 việc sản xuất ra sinh khối, đất đai cung cấp thực phẩm, cỏ khô, sợi, nhiên liệu, củi gỗ và các chất liệu sinh khối khác cho việc sử dụng của con người. - Chức năng môi trường sinh thái: Đất là cơ sở của tính đa dạng sinh học trên trái đất vì nó cung cấp môi trường sống cho sinh vật và bảo vệ nguồn gen cho các thực vật, động vật, vi sinh vật sống trên và dưới mặt đất. - Chức năng điều tiết khí hậu: Đất và việc sử dụng nó là nguồn, nơi sảy ra hiệu ứng nhà kính và là một yếu tố quyết định đối với việc cân bằng năng lượng toàn cầu – phản xạ, hấp thụ, chuyển đổi năng lượng bức xạ mặt trời và tuần hoàn nước trên trái đất. - Chức năng dự trữ và cung cấp nước: Đất điều chỉnh việc dự trữ dòng chảy của tài nguyên nước mặt, nước ngầm và ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước.
- Chức năng dư trữ: Đất là nơi dự trữ khoáng sản và vật liệu thô cho việc sử dụng của con người. - Chức năng kiểm soát ô nhiễm và chất thải: Đất có chức năng tiếp nhận, làm sạch, môi trường đệm và chuyển đổi các hợp chất nguy hiểm. - Chức năng không gian sự sống đất cung cấp cơ sở vật chất cho việc định cư của con người, cho các nhà máy và hoạt động xã hội như thể thao, giải trí…. - Chức năng lưu truyền và kế thừa: Đất là vật trung gian để lưu giữ, bảo vệ các bằng chứng lịch sử, văn hóa của loài người, là nguồn thông tin về các điều kiện thời tiết và việc sử dụng đất trước đây.
- Chức năng không gian tiếp nối: Đất cung cấp không gian cho sự dịch chuyển của con người, cho việc đầu tư, sản xuất và cho sự di chuyển của thực vật, động vật giữa các vùng riêng biệt của hệ sinh thái tự nhiên. Sự thích hợp của đất cho nhiều chức năng trên thể hiện rất khác nhau ở mọi nơi trên thế giới. Các khu vực cảnh quan là khu vực tài nguyên thiên nhiên, có động thái riêng của chúng. Nhưng con người lại có rất nhiều tác n 6 động ảnh hưởng đến động thái này (cả về không gian và thời gian).
Có thể cải thiện chất lượng của đất cho một hoặc nhiều chức năng (ví dụ thông qua phương thức kiểm soát xói mòn), nhưng nói chung đất đã hoặc đang bị các hoạt động của con người gây thoái hóa.2 khái niệm về đất và đất nông nghiệp Đất đai là tài sản vô vùng quý báu của con người, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp. Trên quan điểm sinh thái đất đai được định nghĩa: Đất là vật mang của hệ sinh thái và hệ sinh thái nông nghiệp( Vũ Thị Bình, 1995) [5]. Theo quan điểm của đánh giá đất thì đất đai được định nghĩa là một vùng mà đặc tính của nó được xem như các đặc tính tự nhiên quyết định đến khả năng khai thác được hay không, ở mức độ nào của vùng đất đó. Thuộc tính của đất bao gồm khí hậu, thổ nhưỡng, lớp địa chất bên dưới, thủy văn, động vật, thực vật, những tác động trong quá khứ cũng như hiện tại của con người (FAO, 1976) [50].
Theo Docutraiep (1879) thì đất được định nghĩa như sau: “ Đất là vật thể thiên nhiên, cấu tạo độc lập, lâu đời do quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất bao gồm: Đá, sinh vật, khí hậu, thời gian, địa hình, về sau các nhà nghiên cứu về đất cho rằng đất nông nghiệp phải bổ xung thêm một số yếu tố khác đặc biệt quan trọng là vai trò của con người, chính con người khi tác động vào đất đã làm thay đổi khá nhiều thuộc tính của đất và có thể tạo ra một loại đất mới mà chưa hề có trong tự nhiên.