chương I, điều 3, khoản 6 luật bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014: “Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được các cơ quan nhà nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi trường”[6] 2. Các khái niệm chất thải Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2005 Chất thải rắn là tất cả các loại tạp chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và sự duy trì tồn tại của cộng đồng). Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng. Phát triển bền vững Là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến độ xã hội và bảo vệ môi trường [6].
Cơ sở thực tiễn của đề tài 2. Hiện trạng môi trường trên thế giới Các nhà khoa học cho biết, trong vòng 100 năm trở lại đây, Trái Đất đã nóng lên khoảng 0,50C và trong thế kỷ này sẽ tăng từ 1,5 - 4,50C so với nhiệt độ ở thế kỷ XX. Trái Đất nóng lên có thể mang tới những bất lợi đó là: - Mực nước biển có thể dâng lên cao từ 25 đến 140cm, do sự tan băng và sẽ nhấn chìm một vùng ven biển rộng lớn, làm đất mất đi nhiều vùng sản xuất nông nghiệp. n 7 - Thời tiết thay đổi dẫn đến gia tăng tần suất thiên tai như gió, bão, động đất, phun trào núi lửa, hoả hoạn và lũ lụt.
Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự sống của loài người một cách trực tiếp và gây ra những thiệt hại về kinh tế mà còn gây ra nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng khác. Trái Đất nóng lên chủ yếu do hoạt động của con người mà cụ thể là: - Do sử dụng ngày càng tăng lượng than đá, dầu mỏ và phát triển công nghiệp dẫn đến gia tăng nồng độ CO2 và SO2 trong khí quyển. - Khai thác triệt để làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên rừng và đất rừng, nước là bộ máy khổng lồ giúp cho việc điều hoà khí hậu [10]. Sự suy giảm tầng Ôzôn (O3) Ôzôn là loại khí hiếm trong không khí nằm trong tầng bình lưu khí quyển gần bề mặt Trái Đất và tập trung thành một lớp dày ở độ cao từ 16 - 40 km phụ thuộc vào vĩ độ.
Việc giao thông đường bộ do các phương tiện có động cơ thải ra khoảng 30 - 50% lượng NOx ở các nước phát triển và nhiều chất hữu cơ bay hơi (VOC) tạo ra Ôzôn mặt đất. Nếu không khí có nồng độ Ôzôn lớn hơn nồng độ tự nhiên thì môi trường bị ô nhiễm và gây tác hại đối với sức khỏe của con người. Các chất làm cạn kiệt tầng Ôzôn (ODS - Ozon Depletion Substances) bao gồm: Cloruafluorocacbon (CFC); mêtan (CH4); các khí nitơ ôxit (NO2, NO, NOx) có khả năng hoá hợp với O3 và biến đổi nó thành ôxy [7]. Tài nguyên bị suy thoái.
Rừng, đất rừng và đồng cỏ hiện vẫn đang bị suy thoái hoặc bị triệt phá mạnh mẽ, đất hoang bị biến thành sa mạc. Ô nhiễm môi trường đang xảy ra ở quy mô rộng. Sự phát triển đô thị, khu công nghiệp, du lịch và việc đổ bỏ các loại chất thải vào đất, biển, các thuỷ vực đã gây ô nhiễm môi trường ở quy mô ngày càng rộng, đặc biệt là các khu đô thị. Nhiều vấn đề môi trường tác động tương tác với nhau ở các khu vực nhỏ, mật độ dân số cao.
Ô nhiễm không khí, rác thải, chất thải nguy hại, ô nhiễm tiếng ồn và nước đang biến những khu vực này thành các điểm nóng về môi trường [10]. n 8 Sự gia tăng dân số. Đầu thế kỷ XIX, dân số Thế giới mới có 1 tỷ người nhưng đến năm 1927 tăng lên 2 tỷ người; năm 1960: 3 tỷ; năm 1974: 4 tỷ; năm 1987: 5 tỷ và năm 1999 là 6 tỷ người, trong đó trên 1 tỷ người trong độ tuổi từ 15 - 24 tuổi. Mỗi năm dân số Thế giới tăng thêm khoảng 78 triệu người.
Đến năm 2015, dân số Thế giới sẽ ở mức từ 6,9 - 7,4 tỷ người và đến 2025 dân số sẽ là 8 tỷ người và năm 2050 sẽ là 10,3 tỷ người [10]. Hiện trạng môi trường nông thôn tại Việt Nam Hiện nay, hiện trạng ô nhiễm môi trường nước ta đang ở mức báo động. Nhiều nơi đã và đang trở thành nỗi bức xúc của người dân, nguyên nhân là do việc xử lý rác thải, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật,… làm cho nguồn nước, không khí ở nông thôn bị ô nhiễm trầm trọng. Người dân ở các vùng nông thôn thường xuyên phải đối mặt với các dịch bệnh nguy hiểm.
Tình trạng ô nhiễm không khí của các làng nghề tại các vùng nông thôn, chủ yếu là do nhiên liệu sử dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO 2, SO2 và NOx thải ra trong quá trình sản xuất khá cao. Hình thức các đơn vị sản xuất của làng nghề rất đa dạng, có thể là gia đình, hợp tác xã hoặc doanh nghiệp. Tuy nhiên, do sản xuất mang tính tự phát, sử dụng công nghệ thủ công lạc hậu, chắp vá, mặt bằng sản xuất chật chội, việc đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải ít được quan tâm, ý thức bảo vệ môi trường sinh thái của người dân làng nghề còn kém. Bên cạnh đó lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của Nhà nước, chưa có những chế tài đủ mạnh đối với những hộ làm nghề thủ công gây ô nhiễm môi trường và cũng chưa kiên quyết loại bỏ những làng nghề gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Rác thải ở nông thôn hiện nay cũng đang là một vấn đề. Nếu như ở các đô thị lớn, trung bình một người thải ra 1kg rác/ngày thì tại nông thôn, lượng rác thải ra của mỗi người dân cũng vào khoảng 0,6- 0,7kg rác/ngày. Như vậy, với khoảng 50 triệu dân đang sống ở các vùng nông thôn Việt Nam, mỗi ngày sẽ có khoảng 30-35 nghìn tấn rác thải cần được xử lý, thu gom. Tuy vậy, do ý thức của người dân còn n 9 kém, cho nên lượng rác thu gom mới chỉ đạt 50%, hiện nay chủ yếu người dân tự xử lý rác bằng cách đào hố chôn, đốt, hoặc thải bừa bãi ra các sông, ao, hồ [4].
Theo Lê Văn Khoa, Hoàng Xuân Cơ (2004) [5] nước ta là một nước nông nghiệp, 74% dân số đang sống ở khu vực nông thôn và miền núi với khoảng 20% số hộ ở mức đói nghèo. * Vấn đề nước sạch và VSMT: Kết quả điều tra toàn quốc về vệ sinh môi trường (VSMT) nông thôn do bộ y tế và UNICEF thực hiện cho thấy VSMT và vệ sinh cá nhân còn kém chỉ có 18% tổng số hộ gia đình, 11,7% trường học, 36,6% trạm y tế xã, 21% UBND xã và 2,6% khu chợ tuyến xã có nhà vệ sinh theo tiêu chuẩn của bộ y tế. Tỷ lệ người dân nông thôn đươc dung nước sạch còn rất thấp 7,8% khu chợ nông thôn, 11,7% dân cư nông thôn, 14,2 % trạm xã, 16,1% UBND xã, 26,4% trường học được tiếp cận sử dụng nước máy. Ngoài ra kiến thức của người dân về VSMT và vệ sinh cá nhân còn rất hạn chế, thái độ của người dân về vấn đề này còn rất bang hoàng.
Tính đến năm 2010, tổng dân số được sử dụng nước hợp vệ sinh là 48.457 người, tăng 8.000 người so với cuối năm 2005, tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh là 62% lên 80% thấp hơn kế hoạch 5% trung bình tăng 3,6%/năm. Trong đó tỷ lệ số dân nông thôn được sử dụng nước sinh hoạt đạt QCVN 02/BYT trở lên là 40% thấp hơn kế hoạch 10%. Theo kết quả khảo sát thống kê của UNICEF và Bộ y tế hiện tại khu vực nông thôn mới chỉ có 11,7% người dân được sử dụng nước sạch (nước máy). Còn lại 31% hộ gia đình phải sử dụng nước giếng khoan, 31,2% số hộ gia đình sử dụng nước giếng đào.
Số hộ còn lại sử dụng nước ao hồ (11%), nước mưa và nước đầu nguồn sông suối. Nguồn nước đang bị ô nhiễm nặng. Ngoài ra việc quản lý thuốc BVTV còn nhiều bất cập và gập nhiều khó khan, sử dụng phân bón hóa học tràn lan, tùy tiện. Sử dụng những loại thuốc BVTV không nhãn mác, không đúng thời gian cách ly từng loại thuốc.
Đã làm cho môi trường nông thôn ít nhiều bị ô nhiễm. Hiện trạng vệ sinh môi trường khu vực nông thôn n 10 Khoảng 11.500 hộ gia đình có nhà tiêu chiếm 77%, trong đó 8.988 hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh.003 trụ sở UBND có nước sạch và nhà vệ sinh đạt chuẩn [10]. Số chuồng trại chăn nuôi được xây dựng và cải tao mới đáp ứng việc quản lý chất thải tăng lên.000 hộ có chuồng trại chăn nuôi hợp vệ sinh chiếm 45% trên tổng số 6.000 hộ chăn nuôi, khoảng 18.000 trang trại tập trung hầu hết chất thải được thu gom và sử lý. Số chuồng trại đã có công trình bioga là 1.000 chuồng trại chiếm khoảng 17%.
Việc thu gom và xử lý rác thải đã bắt đầu được quan tâm, khoảng 3.310 xã và thị trấn có tổ thu gom rác thải, đạt 32% trên tổng số 9728 xã trên cả nước. Hiện cả nước đang có 2.790 làng nghề, phân bố không đồng đều giữa các vùng, miền. Miền Bắc khoảng 60%, miền trung 30%, miền nam 10%. Một số làng nghề đã được quy hoạch, chất thải đã được thu gom và xử lý, bước đầu đã hạn chế ô nhiễm môi trường.
Hiện trạng môi trường nông thôn tại huyện Lập Thạch 2. Tình hình thu gom, xử lý rác thải trên địa bàn Đến nay trên địa bàn huyện có 19/20 xã, thị trấn đã có bãi xử lý rác thải tập trung với tổng số 42 bãi với tổng diện tích là 32. Trong đó: Đồng Ích 07 bãi; Bàn Giản 06 bãi; các xã Quang Sơn, Triệu Đề, Tiên Lữ, Liên Hoà mỗi xã 03 bãi; Bắc Bình, Hợp Lý, Đình Chu, Ngọc Mỹ mỗi xã 02 bãi; Xuân Hoà, Hoa Sơn, Văn Quán, Sơn Đông, Vân Trục, Xuân Lôi, Lập Thạch, Tử Du, Thái Hoà mỗi xã có 01 bãi.