MỞ ĐẦU 1. Đặt vấn dé Việt Nam có bờ biển dài 3.260 km, với 112 cửa sông và 4.000 đảo lớn nhỏ, có nhiều eo biển, hồ, đầm, lầy va phá với nhiều sản phẩm thủy sản phong phú. Vùng biển đặc quyên kinh tế rộng trên một triệu km”. Lãnh hải của Việt Nam có khả năng tự hồi sinh cao do nằm trong khu vực sinh thái nhiệt đới và ít bị ô nhiễm.
Tổng sản lượng thủy san cả nước đã tăng từ 1,062 triệu tấn trong năm 1991 lên 2,54 triệu tấn trong năm 2003. Trong đó sản lượng khai thác trên biển tăng từ 0,714 triệu tấn năm 1991 lên 1,426 triệu tấn trong năm 2003 (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 321- tháng 2/2005, trang 36). Gần đây nhiều gia đình đang làm nghề đánh bắt hải sản đã đầu tư với hàng tỉ đồng dé trang bị tàu, thuyén máy, những thiết bị định vị cá, các thiết bị liên lạc để kéo dài thời gian đánh bắt xa bờ của họ và tăng sản lượng. Tính đến cuối năm 2003, cả nước có 83.122 tàu và thuyền máy với tổng công suất 4.079 chiếc so với năm 1991.258 tàu khai thác xa bờ với công suất tổng cộng trên 1 triệu CV, trong đó có 161 tàu công suất trên 90 CV được đóng mới trong năm 2003.
Sản phẩm hải san do tàu khai thác xa bờ đóng góp 18,67% tổng sản phẩm thủy san xuất khẩu năm 2003 (Tạp chí Nghiên cứu kinh tế số 321- tháng 2/2005, trang 37-38). Chính Phủ đã nhận thấy được sự đóng góp quan trọng của nguồn lợi thủy sản trong tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam và đang đẩy mạnh phát triển ngành thủy sản như là ngành kinh tế trọng điểm trong nên kinh tế đất nước. Trong đó vùng biển Đông Nam Bộ có một khối lượng động vật đáy và động vật phù du lớn. Đã tạo cho vùng biển này có thế mạnh về nguồn lợi thủy sản rất lớn.
Đây chính là vùng khai thác mang tính chiến lược của vùng biển Việt Nam. Thành phố Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận nằm tiếp giáp với vùng biển Đông Nam Bộ nên thành phố có thế mạnh về khai thác thủy sản và du lịch biển. Đặc biệt là khai thác thủy sản. Từ năm 1980 đến nay, tình trạng khai thác quá mức nhất là ở vùng nước ven bờ, hải sản khai thác đã vượt quá ngưỡng mà nguồn lợi có thể duy trì được.
Do đó vào những năm gần đây, sản lượng hải san tăng không đáng kể nhưng nhu cầu về sản phẩm hải sản không ngừng tăng lên qua các năm do đời sống người dân ngày càng khá hơn. Mặt khác nghề đánh bắt hải sản ở vùng này lại chủ yếu đánh bắt ven bờ do tàu thuyén công suất thấp trang bị kỹ thuật còn thiếu, làm cho một số loài hải san đã và đang có nguy cơ tuyệt chủng. Trong khi đó, những vùng biển đánh bắt xa bờ thuộc vùng đặc quyền kinh tế thì chưa khai thác hoặc khai thác chưa hiệu quả. Ngoài ra, một số thuyền vì lợi ích trước mắt đã đánh bắt bằng những phương pháp trái với quy định của nhà nước như dùng phương pháp đánh bắt có sự kết hợp với ánh sáng (sử dụng cường độ ánh sáng vượt mức quy định), mắt lưới đánh bắt nhỏ, dùng min làm phương tiện đánh bắt,.
Nếu tình trạng khai thác như vậy vẫn tiếp tục tiếp diễn thì không bao lâu nữa sẽ làm tuyệt chủng những loài hải san ven bờ, làm mất cân bằng sinh thái, gidm tính đa dạng sinh học và ô nhiễm vùng biển. Chính vì lý do trên và được sự đồng ý của khoa kinh tế trường Đại Học Nông Lâm Tp.Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thay Lê Văn Lạng, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng và hiệu quả kinh tế nghề khai thác hai san tại thành phố Phan Thiết — tỉnh Bình Thuan” nhằm hiểu rõ về thực trạng khai thác hải sản của bà con ngư dân tại vùng nghiên cứu. Trên cơ sở đó xem xét hiệu quả khai thác của bà con ngư dân và đưa ra những phương pháp nhằm tăng hiệu quả sản xuất mà không ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản trong tương lai. Mục tiêu dé tài Nhằm đánh giá tình trạng khai thác trong đó mô tả cách thức tổ chức, kĩ thuật đánh bắt, phương pháp bảo quản sản phẩm sau đánh bắt và xác định hiệu quả đánh bắt, những nguyên nhân ảnh hưởng đến nguồn lợi thủy sản trong tương lai.
Đưa ra biện pháp nhằm khắc phục những khó khăn, đẩy mạnh hiệu quả trong khai thác và duy trì nguồn lợi thủy san trong tương lai. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm e Thuật ngữ “ch tau” trong quy định nhà nước là: Người sở hữu hợp pháp con tàu, được các cơ quan Nhà nước thừa nhận và được đăng ký vào số đăng ký tàu đặt tại cơ quan đăng ký, chủ tau còn gọi là chủ sở hữu. Chủ sở hữu được Nhà nước bảo hộ các quyền lợi hợp pháp đối với con tàu.
Chủ sở hữu có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước liên quan đến việc quản lý, sử dụng con tàu và thuyén viên trên tau; tuỳ trường hợp cụ thể sẽ chịu trách nhiệm toàn bộ hoặc một phần về hoạt động của con tàu và thuyén viên do minh giao cho sử dung con tau. e “Thuyén trưởng” là người có quyển chỉ huy cao nhất ở trên tàu. Mọi người ở trên tàu đều phải chấp hành mệnh lệnh của thuyền trưởng. Chức danh thuyền trưởng do cơ quan Nhà nước có thầm quyền công nhận va cấp bằng trên cơ sở đào tạo và sát hạch chuyên môn, nghiệp vụ.
Chủ tàu có thể là thuyền trưởng nếu đã được cấp bằng. Thuyén trưởng có thé do chủ tàu thuê điều hành con tàu theo hợp đồng. Thuyền trưởng có các quyền và nghĩa vụ do luật định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về mọi hoạt động của con tàu. e Tàu đánh cá xa bờ được tạm thời quy định là những tàu cá có công suất từ 90 mã lực trở lên, khai thác thủy san trong vùng biển có giới hạn độ sâu trên 30 m đối với vùng biển Vịnh Bắc Bộ, Đông và Tây Nam Bộ, Vịnh Thái Lan và độ sâu trên 50 m đối với vùng biển miễn Trung.
Nhà nước ta đang có chủ trương khuyến khích đóng tàu lớn, khai thác thủy sản xa bờ nhằm bảo vệ nguồn lợi thủy sản vùng ven bờ đang bị suy giảm. Các tàu đánh cá xa bờ được miễn giảm các loại thuế: Lợi tức, tài nguyên, doanh thu và lệ phí trước bạ. Hiện nay, các cơ quan chức năng đang nghiên cứu ban hành hướng dẫn cụ thể để triển khai chủ trương này. e Nguồn lợi thủy sản là tài nguyên sinh vật, có kha năng tái tạo, có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển kinh tế và đời sống của nhân dân, bao gồm: mọi sinh vật có giá trị kinh tế, khoa học sống ở các vùng nước nội địa, nội thủy, lãnh hai, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyển kinh tế va thêm lục địa Việt Nam.
Nguồn lợi thủy san liên quan đến khái niệm về trữ lượng và khả năng khai thác. o Trữ lượng của một loài là kha năng tiềm tàng hay có thể nói là tổng sản lượng của loài đó tại một vùng nước nhất định. o Khả năng cho phép khai thác là giới han san lượng cho phép khai thác hàng năm mà không gây ảnh hưởng đến việc tái tạo duy trì tính ổn định nguồn lợi, điều đó có nghĩa là sản lượng khai thác năm này không quá mức giới hạn làm ảnh hưởng giảm sút sản lượng của năm sau. Khả năng cho phép khai thác hải sản ở vùng biển Việt Nam hàng năm khoảng 1,2 đến 1,3 triệu tấn/năm.
Nếu không khai thác quá mức thì các loài có khả năng phục hồi quan đàn nhanh va không có nguy cơ giảm sút nguồn ldi. e_ Hiệu quả kinh tế khai thác là một phạm trù kinh tế xác định qua việc so sánh kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế phan ánh trình độ quản lý và mức độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực của chủ doanh nghiệp hay ngành san xuất. Hiệu quả kinh tế càng cao, san phẩm xã hội càng nhiều và mức sống người dân càng được nâng cao.
e Kết quả sản xuất là một khái niệm dùng để chỉ kết quả thu hoạch được sau những đầu tư về vật chất, lao động cũng như tinh thần vào hoạt động sản xuất. cho thấy khái quát được tình hình chi phí giá trị san lượng cũng như thấy được tình hình chi phí giá trị san lượng và thấy được lợi nhuận, thu nhập sau một kỳ sắn xuất. Y nghĩa Khai thác hải sản là cơ sở để cho nhà quản lý nhìn nhận tiém năng hai sản ở vùng biển nước ta rất phong phú và đa dạng. Tâm quan trọng của nguồn lợi thủy sản là nguồn thức ăn dinh dưỡng, nguồn thu nhập của bà con ngư dân, là sản phẩm trong chế biến thức ăn gia súc, là nguồn thu ngân sách của nhà nước qua xuất khẩu và thuế,.
Phuong pháp nghiên cứu 2. Thời gian và địa điểm thực hiện Thời gian nghiên cứu từ năm 2001-— 2004 Địa điểm thực hiện khảo sát tại các phường có nghề biển thuộc thành phố Phan Thiết-Tỉnh Bình Thuật gồm: Phường Hưng Long, phường Bình Hưng, phường Đức Thắng, phường Thanh Hải, phường Phú Hài, phường Mũi Né. Điều tra khảo sát Chúng tôi phân tích đánh giá dựa vào số liệu tại Sở Thủy Sản và Phòng Kinh Tế Phan Thiết. Số liệu này do mạng lưới cộng tác viên của Sở Thủy Sản cung cấp cho Sở hàng tháng.
Mạng lưới cộng tác này được thành lập, bố trí ở các phường có hoạt động nghề cá trên toàn Tỉnh. Bao gồm các cán bộ phụ trách hải sản ở phường, xã. Trong số đó, nhiều người đã và đang có thuyén nghề khai thác hải san và gần gũi với đông đảo ngư dân trong vùng, nên việc theo dõi tình hình khai thác-kinh doanh hải san tương đối sát thực tế và đáng tin cậy. Chúng tôi tiến hành diéu tra thực tế với 63 phiếu khảo sát kết quả đánh bắt hải sản tính trên một đơn vi thuyén từ ngày 22/03/2005 đến 14/05/2005.
Số phiếu này được phân bổ như sau: Tổng số phiếu này chia cho 7 nghề chính tại Phan Thiết, mỗi nghề 9 phiếu. Trong 9 phiếu này được chia ra 3 nhóm công suất tướng ứng với 3 tuyến khai thác như dưới 40 CV phần lớn khai thác ở tuyến lộng; từ 40 đến 90 CV cho tuyến lỡ; trên 90 CV cho tuyến khơi có độ sâu trên 30 m.