Mở đầu: nêu lên tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài. - Nội dung nghiên cứu Chƣơng 1: Tổng quan nội dung nghiên cứu Chƣơng 2: Phân tích hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Đề xuất định hướng sử dụng bền vững đất nông nghiệp huyện Từ Liêm đến 2020 - Kết luận - Tài liệu tham khảo - Phụ lục. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: TỔNG QUAN VỀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm chung 1.1 Khái niệm về đất Đất theo nghĩa thổ nhưỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình, thời gian. Giá trị tài nguyên đất được đánh giá bằng số lượng diện tích (ha, km2) và độ phì nhiêu, màu mỡ.
Đất đai được nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh hưởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhưỡng, thủy văn, thảm thực vật tự nhiên, động vật và những biết đổi của đất do các hoạt động của con người. [32] Về mặt đời sống – xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bổ khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hóa và an ninh quốc phòng. Nhưng đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian [4] 1.2 Khái niệm về đất nông nghiệp: Theo Từ điển điện từ mở wiki, Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi.
Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp.[35] Theo luật Đất đai số 24-L/CTN ngày 14/07/1993, đất đai của Việt Nam chia làm 06 loại: + Đất nông nghiệp; + Đất lâm nghiệp; + Đất khu dân cư nông thôn; 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Đất đô thị; + Đất chuyên dùng; + Đất chưa sử dụng. Đất nông nghiệp được định nghĩa tại Điều 42 như sau: Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp [29]. Tuy nhiên việc phân chia này vừa dựa trên địa giới hành chính, vừa dựa trên mục đích sử dụng, tạo nên sự đan xen, chồng chéo giữa các loại đất, gây khó khăn cho công tác phân loại và quản lý đất đai. Để khắc phục những hạn chế đó và để tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng đất thực hiện các quyền của mình trong việc sử dụng đất.
Luật Đất đai số 13/2003/QH11 ngày 26/11/2003 đã chia đất đai thành 03 nhóm chính với tiêu chí phân loại duy nhất là mục đích sử dụng đất. Trên cơ sở đó, đất đai được chia làm ba nhóm: + Nhóm đất nông nghiệp; + Nhóm đất phi nông nghiệp; + Nhóm đất chưa sử dụng. [30] Theo Thông tư 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của bộ Tài nguyên và Môi trường, đất nông nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.3 Khái niệm và đặc điểm nông nghiệp khu vực đô thị và ven đô: 1.1 Khái niệm: Theo FAO, trong khi vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất, nông nghiệp đô thị và ven đô được coi là các hoạt động nông nghiệp bên trong và xung quanh thành phố, nơi bị cạnh tranh về các nguồn tài nguyên (đất, nước, năng lượng, nhân công) để phục vụ cho các mục đích khác, nhằm phục vụ cho nhu cầu của người dân đô thị. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nông nghiệp đô thị là các khu vực nhỏ (các mảnh đất trống, các khu vườn, bờ đất, ban công, container) trong thành phố được sử dụng để trồng cây và chăn nuôi các loại vật nuôi cỡ nhỏ hoặc bò sữa phục vụ nhu cầu của bản thân hoặc bán tại các khu chợ cóc.
Nông nghiệp ven đô là các trang trại nhỏ gần thành phố hoạt động bán chuyên hoặc chuyên phục vụ kinh doanh trồng rau quả, nuôi gia súc gia cầm, sản suất trứng và sữa.2 Đặc điểm: - Ít cần đóng gói, bảo quản và vận chuyển thực phẩm, - Cung cấp thức ăn giá rẻ cho người nghèo, - Khả năng cung cấp các thực phẩm tươi mới và thực phẩm dễ bị hư hỏng, - Khả năng tái chế và tái sử dụng rác thải, - Nguy hiểm về môi trường và sức khỏe từ các hoạt động trồng trọt và chăn nuôi không đảm bảo, - Gia tăng cạnh tranh về đất, nước, năng lượng, nhân công, - Giảm khả năng hấp thu ô nhiễm của môi trường. Vấn đề sử dụng đất Sử dụng đất liên quan đến chức năng hoặc mục đích của loại đất được sử dụng. Việc sử dụng đất có thể được định nghĩa là: “Những hoạt động của con người, liên quan trực tiếp tới đất, sử dụng nguồn tài nguyên đất hoặc có tác động lên chúng”. [2] Số liệu về quá trình và hình thái các hoạt động đầu tư (lao động, vốn, nước, phân hóa học.), kết quả sản lượng (loại nông sản, thời gian, chu kỳ, mùa vụ.) cho phép đánh giá chính xác việc sử dụng đất, việc phân tích tác động môi trường và kinh tế, lập mô hình những ảnh hưởng của việc biến đổi sử dụng hoặc việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất này sang mục đích s ử dụng đất khác.
Sử dụng đất đai có hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hoà 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mối quan hệ người - đất trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường. Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững đồng thời phát huy tối đa công dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất [15]. Phạm vi sử dụng đất, cơ cấu và phương thức sử dụng đất một mặt bị chi phối bởi các điều kiện và quy luật sinh thái tự nhiên, mặt khác bị ki ềm chế bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã hội và các yếu tố kỹ thuật. Vì vậy, có thể khái quát một số điều kiện và nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đất.
- Điều kiện tự nhiên: Khi sử dụng đất đai, ngoài bề mặt không gian như diện tích trồng trọt, mặt bằng xây dựng ., cần chú ý đến việc thích ứng với điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên của đất cũng như các yếu tố bao quanh mặt đất như: yếu tố khí hậu, yếu tố địa hình, yếu tố thổ nhưỡng. - Điều kiện kinh tế - xã hội: Bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số, lao động, thông tin, các chính sách quản lý về môi trường, chính sách đất đai, yêu cầu về quốc phòng, sức sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông, vận tải, sự phát triển khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất. - Yếu tố không gian: Đây là một tính chất “đặc biệt” khi sử dụng đất do đất đai là sản phẩm của tự nhiên, tồn tại ngoài ý chí và nhận thức của con người. Đất đai hạn chế về số lượng, có vị trí cố định và là tư liệu sản xuất không thay thế được khi 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tham gia vào hoạt động sản xuất của xã hội.
Vấn đề quản lý đất đai Quản lý đất đai bao gồm những chức năng, nhiệm vụ liên quan đến việc xác lập và thực thi các quy tắc cho việc quản lý, sử dụng và phát triển đất đai cùng với những lợi nhuận thu được từ đất (thông qua việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cho thuê đất hoặc thu thuế) và giải quyết những tranh chấp có liên quan đến quyền sở hữu và quyền sử dụng đất. Quản lý đất đai là quá trình điều tra mô tả những tài liệu chi tiết về thửa đất, xác định hoặc điều chỉnh các quyền và các thuộc tính khác của đất, lưu giữ, cập nhật và cung cấp những thông tin liên quan về sở hữu, giá trị, sử dụng đất và các nguồn thông tin khác liên quan đến thị trường bất động sản. Quản lý đất đai liên quan đến cả hai đối tượng đó là đất công và đất tư bao gồm cả các hoạt động đo đạc, đăng ký đất đai, định giá đất, giám sát và quản lý sử dụng đất đai, cơ sở hạ tầng cho công tác quản lý. Nhà nước phải đóng vai trò chính trong việc hình thành chính sách đất đai và các nguyên tắc của hệ thống quản lý đất đai bao gồm: pháp luật đất đai và pháp luật liên quan đến đất đai.
Đối với công tác quản lý đất đai, nhà nước xác định một số nội dung chủ yếu: sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước; tập trung và phân cấp quản lý; vị trí của cơ quan đăng ký đất đai; vai trò của lĩnh vực công và tư nhân; quản lý các tài liệu địa chính; quản lý các tổ chức địa chính; quản lý nguồn nhân lực; nghiên cứu; giáo dục và đào tạo; trợ giúp về chuyên gia tư vấn và kỹ thuật; hợp tác quốc tế.2 Vai trò của đô thị hóa đối với việc sử dụng đất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu của con người về các sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng. Tại các khu vực đô thị và ven đô, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do bị trưng dụng, thu hồi để chuyển mục đích sang các mục đích sử dụng khác.