Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngành chăn nuôi lợn giữ vai trò chủ đạo trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, đóng góp tỷ trọng lớn vào nguồn cung thực phẩm tiêu dùng nội địa và giải quyết sinh kế cho lao động nông thôn. Tuy nhiên, sự dịch chuyển từ chăn nuôi phân tán, nhỏ lẻ sang mô hình chăn nuôi trang trại tập trung quy mô lớn đang đặt ra nhiều thách thức gay gắt về kiểm soát chất thải. Việc gia tăng số lượng vật nuôi tại các vùng nông thôn đông dân cư nhưng thiếu hạ tầng xử lý đạt chuẩn đã biến chất thải chăn nuôi (phân, nước tiểu, nước rửa chuồng, khí độc) thành nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường đất, nguồn nước mặt, nước ngầm và không khí. Theo cảnh báo từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), phân và chất thải gia súc là nguồn truyền nhiễm của hơn 50 bệnh nguy hiểm; đồng thời các bệnh dịch như tai xanh (PRRS), lở mồm long móng, tiêu chảy hay liên cầu lợn tiềm ẩn nguy cơ lây lan diện rộng, đe dọa sức khỏe cộng đồng và làm suy giảm hiệu quả kinh tế.
Thực tế tại xã Vật Lại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội—địa bàn thuần nông có mật độ dân cư đông và đàn gia súc phát triển mạnh—hoạt động chăn nuôi trang trại phát triển nhanh nhưng phần lớn chất thải chưa được xử lý đồng bộ. Điển hình là trang trại chăn nuôi lợn nái của gia đình bác Nguyễn Danh Lộc, nơi phát sinh khối lượng lớn chất thải hàng ngày nhưng việc xử lý sơ bộ qua ao lắng chưa triệt để, gây ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống xung quanh. Nhằm giải quyết thực trạng này, tác giả Nguyễn Thị Cẩm Giang đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Môi trường tại Trường Đại học Nông Lâm – Đại học Thái Nguyên (2017) với đề tài: “Đánh giá hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi lợn và đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải chăn nuôi tại trang trại lợn nái xã Vật Lại - Ba Vì - Hà Nội”.
Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá toàn diện hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi lợn và đề xuất một số biện pháp quản lý chất thải chăn nuôi khả thi tại trang trại lợn nái của hộ gia đình trên địa bàn xã Vật Lại. Các mục tiêu cụ thể được xác định bao gồm:
- Đánh giá hiện trạng chăn nuôi lợn tại trang trại lợn của gia đình bác Nguyễn Danh Lộc xã Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội và tác động của nó tới môi trường xung quanh.
- Đánh giá sơ bộ chất lượng môi trường bên trong trang trại, hiện trạng các biện pháp xử lý đã và đang được sử dụng tại Trang trại.
- Đánh giá yếu tố xã hội ảnh hưởng tới ô nhiễm môi trường của Trang trại chăn nuôi lợn.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý môi trường trong quản lý chất thải chăn nuôi tại Trang trại.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hiện trạng quản lý chất thải phát sinh từ hoạt động chăn nuôi tại trang trại lợn nái của gia đình bác Nguyễn Danh Lộc. Phạm vi không gian nghiên cứu được giới hạn tại khuôn viên trang trại và khu vực dân cư tiếp giáp thuộc xã Vật Lại, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực hiện vào đầu năm 2017, sử dụng chuỗi số liệu thứ cấp và dữ liệu sản xuất của trang trại cũng như địa phương trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2016.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên định nghĩa pháp lý về chất thải tại khoản 12 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, theo đó chất thải là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác. Trong lĩnh vực nông nghiệp, chất thải chăn nuôi bao gồm toàn bộ chất thải rắn (phân, chất độn chuồng, thức ăn thừa), chất thải lỏng (nước tiểu, nước tắm rửa chuồng trại) và chất thải khí (CO2, NH3, CH4, H2S) phát sinh từ quá trình chuyển hóa sinh học của vật nuôi. Tác giả vận dụng các báo cáo của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) về phát thải khí nhà kính (chăn nuôi tạo ra 9% lượng CO2, 37% lượng CH4 và 65% lượng NOx toàn cầu) và các nghiên cứu chuyên ngành về cơ chế khử ion sunphát thành sunphua sinh ra khí H2S gây mùi đặc trưng.
Hệ thống khung văn bản quy phạm pháp luật và tiêu chuẩn kỹ thuật được tác giả sử dụng làm căn cứ pháp lý và thước đo đối chiếu bao gồm:
- Luật Bảo vệ môi trường số 25/2014/QH13 ngày 23 tháng 06 năm 2014.
- QCVN 62-MT:2016/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nước thải chăn nuôi.
- Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06 tháng 08 năm 2014 của Chính phủ về thoát nước và xử lý nước thải.
- Nghị định số 25/NĐ-CP ngày 29 tháng 03 năm 2013 về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.
- QCVN 01-04-2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại nuôi lợn an toàn sinh học.
- QCVN 01-15-2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.
- QCVN 01-79-2011/BNN&PTNT: Quy trình đánh giá kiểm tra điều kiện vệ sinh thú y.
- Thông tư 04/2010/TT-BNNPTNT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về điều kiện trại chăn nuôi lợn, trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.
- QCVN 01-39:2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ sinh nước dùng trong chăn nuôi.
- QCVN 01-78:2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về thức ăn chăn nuôi – Các chỉ tiêu vệ sinh an toàn và mức giới hạn tối đa cho phép.
- Quyết định số 10/2008/QĐ-TTg ngày 16 tháng 01 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020.
Để thu thập và xử lý dữ liệu phục vụ các mục tiêu trên, nghiên cứu phối hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp thu thập số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp từ báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội của UBND xã Vật Lại, tài liệu chuyên môn của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện; thu thập số liệu sơ cấp qua nhật ký chuồng trại, quan sát thực địa trực quan và ghi nhận bằng máy ảnh.
- Phương pháp điều tra phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn cấu trúc bằng phiếu điều tra đối với 20 hộ gia đình sinh sống liền kề khu vực trang trại để ghi nhận mức độ ảnh hưởng của mùi hôi và tiếng ồn; phỏng vấn sâu chủ trang trại (bác Nguyễn Danh Lộc) về quy mô đàn, thức ăn, chu kỳ xuất bán; phỏng vấn kỹ sư và công nhân vận hành về quy trình dọn rửa, thoát nước.
- Phương pháp so sánh: Đối chiếu nồng độ các thông số ô nhiễm nước thải thu gom tại các ao sinh học của trang trại với ngưỡng giới hạn quy định tại QCVN 62-MT:2016/BTNMT.
- Phương pháp tham khảo và kế thừa tài liệu: Kế thừa định mức phát thải chất thải gia súc theo nghiên cứu của Bùi Xuân An (2010), số liệu vi sinh vật của Nguyễn Thị Hoa Lý (2004), cùng các công nghệ xử lý kỵ khí, hồ sinh học, SBR (Hà Lan) và quy trình VALPUREN (Tây Ban Nha).
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Phân loại, tổng hợp và tính toán số liệu phát thải, dung tích công trình xử lý bằng phần mềm Microsoft Word và Microsoft Excel 2010.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả làm rõ tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ mâu thuẫn giữa nhu cầu mở rộng chăn nuôi trang trại nhằm gia tăng thu nhập cho nông dân với nguy cơ suy thoái môi trường do quản lý chất thải yếu kém. Phần này thiết lập đầy đủ mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể, 3 yêu cầu nghiên cứu (tính chính xác, đáp ứng mục tiêu, tính khả thi của giải pháp) và khẳng định ý nghĩa khoa học trong việc vận dụng kiến thức chuyên ngành Khoa học Môi trường vào giải quyết vấn đề ô nhiễm thực tế tại cơ sở chăn nuôi nông thôn.
Phần 2: Tổng quan tài liệu
Chương này cung cấp bức tranh toàn diện về ngành chăn nuôi trên thế giới và tại Việt Nam. Về mặt toàn cầu, cuộc cách mạng chăn nuôi đang chuyển dịch mạnh mẽ sang các nước đang phát triển tại châu Á, dự kiến đáp ứng phần lớn nhu cầu tiêu thụ thịt và sữa nhưng gây sức ép lớn lên suy thoái đất, nguồn nước và khí hậu. Tại Việt Nam, đàn lợn tăng trưởng từ 21,8 triệu con năm 2001 lên 26,6 triệu con năm 2007 (tăng bình quân 3,3%/năm); sản lượng thịt xẻ năm 2016 đạt 2,4 triệu tấn (bình quân 41,7 kg thịt hơi/người). Mặc dù số hộ chăn nuôi giảm từ 4,13 triệu hộ năm 2011 do giảm bớt chăn nuôi nông hộ nhỏ lẻ, quy mô đàn quy mô lớn từ 50 con trở lên lại tăng gần 80%.
Về khía cạnh môi trường, chương tổng hợp các chỉ số phát thải đặc trưng của gia súc. Trung bình ngành chăn nuôi phát sinh 75 - 85 triệu tấn chất thải/năm. Nước thải chăn nuôi lợn chứa 70 - 80% hợp chất hữu cơ, hàm lượng N-tổng dao động từ 200 - 350 mg/l (trong đó N-NH4 chiếm 80 - 90%), P-tổng từ 60 - 100 mg/l; khí thải chứa trên 40 hợp chất gây mùi với nồng độ H2S và NH3 vượt chuẩn 30 - 40 lần. Dưới đây là bảng tổng hợp định mức phát sinh chất thải theo nghiên cứu của Bùi Xuân An (2010) và mật độ vi sinh vật trong phân lợn theo Nguyễn Thị Hoa Lý (2004) được tác giả dẫn dụng:
| Loại gia súc |
Khối lượng phân (kg/ngày) |
Nước tiểu (kg/ngày) |
| Lợn (< 10 kg) |
0,5 - 1,0 |
0,3 - 0,7 |
| Lợn (45 - 100 kg) |
3 - 5 |
2 - 4 |
| Chỉ tiêu vi sinh vật trong phân lợn |
Đơn vị tính |
Số lượng |
| Coliform |
MPN/100g |
$5 \cdot 10^5 - 10^7$ |
| E. coli |
MPN/100g |
$10^5 - 10^7$ |
| Streptococcus |
MPN/100g |
$3 \cdot 10^2 - 10^4$ |
| Salmonella |
Vi khuẩn/25ml |
$10 - 10^4$ |
| Clostridium perfringens |
Vi khuẩn/ml |
$10 - 10^2$ |
| Đơn bào |
MPN/10g |
$0 - 10^3$ |
Đồng thời, tác giả khái quát các định hướng phát triển chăn nuôi theo Quyết định 10/2008/QĐ-TTg, đặt mục tiêu đến năm 2020 tỷ trọng chăn nuôi chiếm trên 42% trong nông nghiệp, đàn lợn đạt khoảng 35 triệu con với 37% nuôi theo phương thức công nghiệp gắn liền với hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp
Phần này mô tả cấu trúc thực hiện đề tài thông qua 5 nội dung chính: (1) Điều tra hiện trạng môi trường tại trang trại; (2) Đánh giá sơ bộ chất lượng môi trường xung quanh và tính toán tải lượng chất thải; (3) Khảo sát các biện pháp xử lý chất thải hiện hành; (4) Phân tích các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến ô nhiễm; (5) Đề xuất giải pháp quản lý. Chi tiết hóa cỡ mẫu khảo sát xã hội học gồm 20 hộ dân xung quanh và thiết lập quy trình đối chiếu số liệu phân tích môi trường với QCVN 62-MT:2016/BTNMT.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương này trình bày các phát hiện thực nghiệm và số liệu khảo sát thực tế:
- Điều kiện địa phương: Xã Vật Lại có diện tích 1.443,07 ha (đất sản xuất nông nghiệp 938,41 ha), dân số 14.503 nhân khẩu tại 5 thôn (Yên Bồ, Vật Phụ, Cầu Dấng, An Thịnh, Tân Phú Mỹ). Tổng giá trị sản xuất (GDP) xã đạt 445 tỷ đồng, thu nhập bình quân 26 triệu đồng/người/năm. Năm 2016, tổng đàn lợn của toàn xã đạt 39.315 con. Môi trường nước mặt tại các sông, suối, ao hồ trên địa bàn xã—đặc biệt là lưu vực sông Tích—có dấu hiệu ô nhiễm do tiếp nhận nước thải và bao bì hóa chất chưa xử lý; nước ngầm qua thăm dò giếng khoan chưa có dấu hiệu ô nhiễm; môi trường không khí tương đối sạch do ít cơ sở công nghiệp.
- Quy mô và hạ tầng trang trại bác Nguyễn Danh Lộc: Tổng diện tích mặt bằng là 3 ha (bao gồm khu nhà ở công nhân, nhà sát trùng, bể chứa nước), trong đó diện tích xây dựng chuồng trại chăn nuôi là 5.000 m2. Kết cấu chuồng trại kiên cố gồm 4 dãy nhà: móng bê tông cốt thép, cột bê tông, nền đổ bê tông vữa xi măng mác 200, tường xây gạch vữa xi măng mác 75, mái lợp tôn màu trắng sữa. Bên trong trang bị hệ thống giàn làm mát, quạt thông gió công nghiệp, các ô lồng cá thể và cũi đẻ cách ly nền chuồng nhằm giảm tỷ lệ chết ở lợn con. Trang trại chuyên nuôi lợn nái sinh sản với quy mô duy trì thường xuyên 600 con lợn nái. Số lượng lợn con xuất chuồng ghi nhận mức tăng qua các năm:
| Năm |
Số lượng lợn xuất chuồng trung bình hàng tháng (con/tháng) |
| 2013 |
1.130 |
| 2014 |
1.200 |
| 2015 |
1.250 |
| 2016 |
1.300 |
- Hiện trạng phát thải và xử lý chất thải: Chất thải rắn phát sinh gồm phân tại chuồng đẻ và chuồng bầu, thức ăn thừa; chất thải lỏng gồm nước tiểu và nước thau rửa chuồng. Trang trại áp dụng biện pháp xử lý nước thải thông qua hệ thống ao lắng và ao có thả thực vật thủy sinh (bèo tây). Tuy nhiên, hiệu quả xử lý chưa cao, nước thải sau xử lý chưa đạt triệt để quy chuẩn xả thải; chất thải rắn chủ yếu thu gom đóng bao bán làm phân bón hoặc cấp cho ao nuôi cá mà chưa qua ủ hoai khử trùng.
- Khảo sát xã hội học: Kết quả điều tra 20 hộ dân xung quanh ghi nhận nhận thức của người dân về ô nhiễm chăn nuôi, mức độ ảnh hưởng của mùi hôi và tiếng ồn từ trang trại lợn đến đời sống sinh hoạt.
- Đề xuất biện pháp: Khóa luận tính toán tải lượng chất thải và xác định thể tích bể Biogas kỵ khí cần xây dựng để xử lý toàn bộ chất thải lỏng và phân thừa, đồng thời đưa ra 4 nhóm biện pháp: luật - chính sách, kỹ thuật - công nghệ, tuyên truyền giáo dục và quản lý - quy hoạch.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp các dữ liệu thực nghiệm định lượng cụ thể về quy mô phát thải của một cơ sở chăn nuôi lợn nái thương phẩm quy mô 600 nái tại huyện Ba Vì:
- Xác định quy mô cơ sở vật chất gồm 5.000 m2 diện tích chuồng nuôi trên tổng diện tích khuôn viên 3 ha, xuất bán ổn định từ 1.130 con lợn giống/tháng (năm 2013) lên 1.300 con lợn giống/tháng (năm 2016).
- Đánh giá cụ thể áp lực phát thải từ đàn lợn 39.315 con của xã Vật Lại và lượng chất thải rắn, lỏng hàng ngày tại trang trại nghiên cứu theo định mức sinh học (3 - 5 kg phân/ngày và 2 - 4 kg nước tiểu/ngày trên mỗi cá thể lợn lớn).
- Chỉ ra hạn chế kỹ thuật của mô hình xử lý hiện tại (chỉ sử dụng ao lắng cơ học kết hợp ao thực vật thủy sinh), nước thải chưa được phân hủy kỵ khí triệt để nên vẫn gây mùi và tiềm ẩn nguy cơ phát tán vi khuẩn Coliform, E. coli ra môi trường nước mặt.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất hệ thống giải pháp giảm thiểu ô nhiễm có tính khả thi:
- Biện pháp pháp luật và chính sách: Yêu cầu trang trại tuân thủ nghiêm ngặt Luật Bảo vệ môi trường 2014; thực hiện nghĩa vụ nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải theo Nghị định 25/NĐ-CP; bảo đảm nước xả thải đáp ứng các giới hạn quy định tại QCVN 62-MT:2016/BTNMT; áp dụng các điều kiện an toàn sinh học theo QCVN 01-04-2010/BNN&PTNT.
- Biện pháp công nghệ: Tính toán lượng phát thải để thiết kế xây dựng bể Biogas (hầm ủ khí sinh học) có dung tích phù hợp với đàn nái 600 con; kết hợp thu hồi khí gas làm chất đốt và chạy máy phát điện; sử dụng nước thải sau Biogas qua hệ thống hồ sinh học có thực vật thủy sinh trước khi thải ra mương tưới; tiến hành ủ phân compost đối với toàn bộ chất thải rắn để diệt trừ mầm bệnh trước khi bán cho trồng trọt.
- Biện pháp tuyên truyền, giáo dục: Tổ chức tập huấn cho công nhân trang trại về kỹ thuật thu gom phân khô trước khi xối nước rửa chuồng; nâng cao ý thức giữ gìn vệ sinh và an toàn lao động phòng chống các bệnh truyền nhiễm.
- Biện pháp quản lý, quy hoạch: Quy hoạch khu vực chăn nuôi cách ly khu dân cư; thiết lập hành lang cây xanh quanh trại để chắn bụi và giảm thiểu khuếch tán mùi hôi; thực hiện tiêu độc khử trùng định kỳ chuồng trại và phương tiện vận chuyển.
Đóng góp của đề tài thể hiện ở việc cung cấp một báo cáo khảo sát thực địa chi tiết, kết hợp số liệu thống kê quản lý nhà nước tại địa phương với kết quả khảo sát cộng đồng dân cư trực tiếp chịu ảnh hưởng, từ đó đưa ra bài toán tính toán kỹ thuật bể Biogas đáp ứng đúng quy chuẩn môi trường hiện hành tại thời điểm nghiên cứu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ điều kiện thực tế của sinh viên thực tập:
- Phạm vi khảo sát xã hội học mới dừng lại ở quy mô mẫu nhỏ (20 hộ gia đình sinh sống gần trang trại), chưa bao quát toàn diện các đối tượng dân cư chịu ảnh hưởng gián tiếp trên toàn tuyến dòng chảy sông Tích.
- Các đánh giá về chất lượng môi trường nước thải và môi trường xung quanh tại trang trại chủ yếu dựa trên quan sát thực địa và đánh giá sơ bộ tại hệ thống ao lắng có sẵn, chưa thực hiện quan trắc phân tích định kỳ các thông số hóa lý chuyên sâu (BOD5, COD, tổng N, tổng P, kim loại nặng) theo các mùa khác nhau trong năm.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài bao gồm:
- Tiến hành lấy mẫu và phân tích trong phòng thí nghiệm đầy đủ các chỉ tiêu hóa sinh của nước thải tại từng công đoạn xử lý để kiểm chứng chính xác hiệu quả xử lý thực tế của công trình Biogas sau khi xây dựng.
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các trang trại chăn nuôi lợn thịt và gia cầm khác trên địa bàn huyện Ba Vì nhằm xây dựng mô hình quản lý chất thải chăn nuôi quy mô cấp xã, liên xã gắn với quy hoạch nông thôn mới bền vững.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị thực tiễn đối với:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Kỹ thuật Môi trường: Tham khảo cấu trúc một bài khóa luận đánh giá hiện trạng ô nhiễm nông nghiệp, cách thức xây dựng phiếu phỏng vấn cộng đồng và phương pháp tổng hợp dữ liệu địa phương.
- Cán bộ quản lý môi trường cấp xã và huyện: Nắm bắt thực trạng phát sinh chất thải từ mô hình chăn nuôi lợn nái tập trung; sử dụng khung văn bản quy phạm pháp luật (Luật Bảo vệ môi trường 2014, QCVN 62-MT:2016/BTNMT, các quy chuẩn an toàn sinh học của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) để giám sát hoạt động chăn nuôi trên địa bàn.
- Chủ trang trại và kỹ sư chăn nuôi: Vận dụng kinh nghiệm xây dựng kết cấu chuồng nuôi kiên cố (mác bê tông 200, tường mác 75, cũi đẻ cá thể giảm hao hụt lợn con) và phương án xử lý chất thải kết hợp bể Biogas với hồ sinh học để giảm thiểu khiếu nại về mùi hôi từ khu dân cư.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô diện tích và số lượng đàn lợn nái tại trang trại của gia đình bác Nguyễn Danh Lộc là bao nhiêu?
Trang trại có tổng diện tích mặt bằng là 3 ha (gồm khu nhà ở cho công nhân, nhà sát trùng, bể chứa nước), trong đó tổng diện tích chuồng trại chăn nuôi là 5.000 m2. Trang trại duy trì quy mô thường xuyên là 600 con lợn nái sinh sản.
2. Số lượng lợn xuất chuồng trung bình hàng tháng của trang trại biến động như thế nào trong giai đoạn 2013 - 2016?
Theo số liệu thống kê tại trang trại, số lượng lợn xuất chuồng trung bình mỗi tháng tăng dần qua các năm: năm 2013 đạt 1.130 con/tháng; năm 2014 đạt 1.200 con/tháng; năm 2015 đạt 1.250 con/tháng; và năm 2016 đạt 1.300 con/tháng.
3. Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể nào?
Tác giả sử dụng 5 phương pháp chính: phương pháp thu thập số liệu (sơ cấp và thứ cấp), phương pháp điều tra phỏng vấn (khảo sát 20 hộ dân, phỏng vấn chủ trại, kỹ sư và công nhân), phương pháp so sánh (đối chiếu với QCVN 62-MT:2016/BTNMT), phương pháp tham khảo và kế thừa tài liệu, và phương pháp thống kê, xử lý số liệu bằng phần mềm Word và Excel 2010.
4. Theo tài liệu tổng quan mà tác giả kế thừa, định mức thải phân và nước tiểu của lợn thể trọng 45 - 100 kg là bao nhiêu?
Theo số liệu của tác giả Bùi Xuân An (2010) được trích dẫn trong Bảng 2.2 của khóa luận, lợn có khối lượng từ 45 - 100 kg thải ra trung bình từ 3 - 5 kg phân/ngày và từ 2 - 4 kg nước tiểu/ngày.
5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp nào để giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại trang trại?
Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ: (1) Biện pháp luật và chính sách (tuân thủ Luật BVMT 2014, nộp phí bảo vệ môi trường, áp dụng quy chuẩn QCVN 62-MT:2016/BTNMT); (2) Biện pháp công nghệ (xây dựng bể Biogas, kết hợp hồ sinh học thực vật thủy sinh, ủ phân compost); (3) Biện pháp tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức người lao động; (4) Biện pháp quản lý và quy hoạch khoảng cách an toàn sinh học.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Cẩm Giang đã phản ánh chi tiết thực trạng quản lý chất thải tại một trang trại chăn nuôi lợn nái quy mô 600 con điển hình ở xã Vật Lại, huyện Ba Vì, Hà Nội. Nghiên cứu đã làm rõ sự bất cập của các công trình xử lý sơ bộ dạng ao lắng hiện hữu trước áp lực phát thải liên tục từ hoạt động chăn nuôi tập trung. Trên cơ sở đối chiếu các tiêu chuẩn quy phạm môi trường và khảo sát phản ánh thực tế từ cộng đồng dân cư, tác giả đã đề xuất giải pháp kỹ thuật trọng tâm là xây dựng hệ thống bể Biogas kết hợp ao sinh học và ủ phân hữu cơ. Kết quả của đề tài đóng góp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quan trọng, hỗ trợ đắc lực cho công tác quy hoạch chăn nuôi gắn liền với bảo vệ môi trường nông thôn tại địa phương.