Đặt vấn đề Song song với tiến trình phát triển kinh tế xã hội, thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, thì vấn đề về môi trường, sức khỏe của cộng đồng là nền tảng và là động lực để phát triển đất nước và tham gia hội nhập quốc tế. Với sự tăng về dân số cùng với sự phát triển của các khu đô thị thì việc phát triển về vấn đề giáo dục, kinh tế văn hóa xã hội đặc biết phát triển y tế nhằm đảm bảo sức khỏe cho nguồn lực lao động được coi là vấn đề quan trọng và cấp thiết. Theo số liệu thống kê chưa đầy đủ cho tới năm 2010 thì ở Việt Nam có khoảng 1186 bệnh viện và hơn 12569 cơ sở khám chữa bệnh với công suất là 187843 giường bệnh. Hoạt động của bệnh viện ngoài mang lại phúc lợi cho xã hội và con người thì quá trình hoạt động cũng tác động tiêu cực tới môi trường đặc biệt là ô nhiễm do nước thải y tế gây ra.
Từ năm 1997 các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành. Nhưng hầu hết các bệnh viện ở nước ta vẫn chưa trang bị các phương pháp xử lý đạt tiêu chuẩn, vẫn còn tình trạng xả thẳng ra ngoài môi trường mà chưa qua quy trình xử lý nào. Nước thải bệnh viện là một trong những mối quan tâm, lo ngại vì chúng có thể gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và nguy hại đến đời sống con người. Điều quan tâm hàng đầu đối với nước thải của các bệnh viện là vấn đề các vi trùng gây bệnh và thuốc kháng sinh, thuốc sát trùng.
Các vi trùng gây bệnh có thể tồn tại trong một thời gian nhất định ngoài môi trường khi có cơ hội nó sẽ phát triển trên một vật chủ khác và đó chính là hiện tượng lây lan các bệnh truyền nhiễm. Đây chính là điểm khác biệt của nước thải bệnh viện so với các loại nước thải khác. Ngoài ra, các chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng với dòng nước thải sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây ra sự phá vỡ hệ cân bằng sinh thái trong hệ các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử lý nước thải của vi sinh, nếu không quản lý tốt có thể gây ra những nguy cơ đáng kể cho con người và môi trường. Bệnh viện đa khoa tỉnh Bắc Kạn được thành lập ngày 04/01/1997 theo quyết định số 53/QĐ – UB của Ủy ban nhân dân tỉnh, là một đơn vị trực thuộc n 2 Sở Y Tế Bắc Kạn.Bệnh viện chính thức đi vào hoạt động năm 2001 được xây dựng trên tổng diện tích 25.705 m2 với nhiều hạng mục công trình bao gồm các khoa, phòng, các công trình phụ trợ và đường nội bộ kết hợp với đường dân sinh.
Tổng lượng nước thải hiện nay của toàn bệnh viện trung bình ước tính thải vào môi trường 3,7 m3/h tính trung bình theo ngày thì lượng nước thải của bệnh viện thải ra môi trường một ngày 85 m3 / ngày đêm. Xuất phát từ thực trạng trên, được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Môi trường, Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo ThS. Hà Đình Nghiêm em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn”. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Tìm hiểu hệ thống xử lý nước thải của bệnh viện.
- Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải của bệnh viện. - Đề xuất giải pháp giảm thiểu gây ô nhiễm môi trường nước của bệnh viện trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Nghiên cứu sơ lược về bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn. - Xác định nhu cầu sử dụng nước cho từng hoạt động và tổng lượng nước thải y tế của bệnh viện.
- Đánh giá hiện trạng chất lượng nước thải của bệnh viện. - Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước thải bệnh viện. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải phản ánh trung thực, khách quan. - Kết quả phân tích phải chính xác.
- Những kiến nghị đưa ra phải phù hợp với tình hình thực tế của địa phương. Ý nghĩa của đề tài Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học - Tạo cho sinh viên cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tiễn. - Nâng cao kiến thức, kỹ năng tổng hợp, phân tích số liệu và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. n 3 - Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học.
- Là nguồn tài liệu cho học tập và nghiên cứu khoa học. - Sự thành công của đề tài là cơ sở để nâng cao phương pháp làm việc có khoa học, giúp bố trí được thời gian và công việc một cách hợp lý. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đánh giá được lượng nước thải phát sinh, tình hình thu gom và xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn. - Cảnh báo nguy cơ ô nhiễm nước thải y tế nếu không được thu gom và sử lý theo quy định.
- Đề xuất một số biện pháp khả thi giúp cho công tác thu gom và xử lý nước thải y tế một các phù hợp và khoa học với điều kiện của bệnh viện nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường - Khái niệm về môi trường: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
- Khái niệm về ô nhiễm môi trường: Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”. Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước: Ô nhiễm nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá tiêu chuẩn cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật.
Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các sông hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí. Nước bị ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, mà các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm thường là khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu. Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: "Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công n 5 nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã".
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng. Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: Quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vào môi trường nước. Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hoá chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý. Khái niệm và phân loại về nước thải Khái niệm về nước thải: Theo Tiêu chuẩn Việt Nam 5980- 1995 và ISO 6107/1- 1980: Nước thải là nước được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó.
Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng. Phân loại nước thải: thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh. Nước thải sinh hoạt: là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở trường học khác. Nước thải công nghiệp: là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
Nước thải thấm qua: là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các khớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố gas hay hố xí. Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng. Nước thải đô thị: nước thải đô thị là một thuật ngữ chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một thành phố, thị xã, đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên. n 6 Khái niệm phát triển bền vững: Theo Tổ chức ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): “Phát triển bền vững là một loại hình phát triển mới, lồng ghép quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và nâng cao chất lượng môi trường.
Phát triển bền vững cần phải đáp ứng các nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không phương hại đến khả năng của chúng ta đáp ứng các nhu cầu của thế hệ trong tương lai”. Khái nện tiêu chuẩn môi trường: Tiêu chuẩn môi trường là các giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng chất gây ô nhiễm trong chất thải, được cơ quan có thẩm quyền quy định, làm căn cứ và bảo vệ môi trường. Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam: “ Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dung làm căn cứ để quản lý môi trường”. Cơ sở pháp lý - Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.