phần mở đầu và kết luận, kiến nghị cấu trúc luận văn gồm 3 chƣơng sau: Chƣơng 1: Lý luận và phƣơng pháp đánh giá hệ thống sử dụng đất và quy sử dụng đất theo hƣớng bền vững. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 2: Hiện trạng và các yếu tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng đất tại xã Đại Thành, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội. Chƣơng 3: Đánh giá hệ thống sử dụng đất và đề xuất hƣớng điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬDỤNG ĐẤT VÀ QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THEO HƢỚNG BỀN VỮNG 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan 1. Trên thế giới Đánh giá đất theo quan điểm của Nga (Liên Xô cũ) Xuất phát từ quan điểm phát sinh thổ nhƣỡng của Docutraep, cho rằng đánh giá đất đai trƣớc hết phải xem xét loại đất (thổ nhƣỡng) và chất lƣợng tự nhiên của đất, đó là những chỉ tiêu mang tính khách quan và đáng tin cậy. Nội dung đánh giá bao gồm đánh giá chung về đất nông nghiệp của vùng và đánh giá riêng về đất canh tác của từng xí nghiệp nông nghiệp dựa trên những tính chất tự nhiên của đất, lấy năng suất và hiệu quả kinh tế của cây lúa mì làm tiêu chuẩn so sánh. Đơn vị đánh giá đất là các nhóm đất bao gồm: đất trồng cây nông nghiệp có tƣới, đất nông nghiệp đƣợc tiêu úng, đất trồng cây lâu năm và cây ăn quả, đất trồng cỏ và đồng cỏ chăn thả.
Hệ thống các chỉ tiêu chủ yếu dùng trong đánh giá đất gồm: - Tính chất thổ nhƣỡng và nông hóa của đất. - Năng suất cây trồng nông nghiệp - Sản lƣợng và tổng giá trị sản lƣợng - Lợi nhuận thuần túy - Thu nhập chênh lệch - Hoàn vốn chi phí Quy trình đánh giá đất của Liên Xô đƣợc thực hiện theo 3 bƣớc: - Bƣớc 1: Đánh giá lớp phủ thổ nhƣỡng theo các tính chất tự nhiên và đƣợc thể hiện bằng thang điểm - Bƣớc 2: Đánh giá khả năng sản xuất của đất đai - Bƣớc 3: Đánh giá kinh tế đất bằng cách sử dụng các chỉ tiêu nhƣ năng suất, thu nhập thuần, chi phí hoàn vốn và thu nhập chênh lệch. Đánh giá đất theo quan điểm của Mỹ 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ những năm 50 của thế kỷ XX, ở Mỹ đã tiến hành đánh giá và phân loại khả năng thích nghi của đất đai và áp dụng chủ yếu cho đất nông nghiệp có tƣới. Trong phân loại khả năng thích nghi đất có tƣới (Irrigation land suitability classification) của Cục cải tạo đất đai – Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USBR), đất đƣợc phân thành 6 lớp: từ lớp rất thuận lợi cho cây nông nghiệp trong vùng, lớp có thể trồng trọt đƣợc một cách giới hạn đến lớp không thể trồng trọt đƣợc.
Một số chỉ tiêu kinh tế định lƣợng của đất đai đã đƣợc xem xét nhƣ năng suất, sản lƣợng và lợi nhuận. Bên cạnh đó, khái niệm về “khả năng đất đai” cũng đƣợc sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá đất ở Mỹ do Vụ bảo tồn đất – Bộ Nông nghiệp Mỹ đề xuất năm 1964. Trong đó, các đơn vị bản đồ đất đƣợc nhóm lại dựa vào khả năng sản xuất một loại cây trồng hay thực vật tự nhiên nào đó, chỉ tiêu chính là các hạn chế của lớp đất phủ thổ nhƣỡng đối với mục tiêu canh tác đƣợc đề nghị. Quan điểm đánh giá đất của FAO Để đạt đƣợc sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa việc đánh giá đất đai, các chuyên gia quốc tế hàng đầu về đánh giá đất của FAO đã tiến hành nghiên cứu và đề xuất phƣơng pháp đánh giá đất theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững.
Dự thảo đầu tiên về đánh giá đất của FAO đã ra đời năm 1972, sau đó đƣợc Brinkman và Smyth soạn lại và in ấn năm 1973. Năm 1975, tại hội nghị Rome, những ý kiến đóng góp cho bản dự thảo năm 1973 đã đƣợc các chuyên gia hàng đầu biên soạn lại thành đề cƣơng đánh giá đất (A frameword for land evaluation), công bố năm 1976. Đề cƣơng này đƣợc chỉnh sửa và bổ sung năm 1983. FAO đã có những hƣớng dẫn cụ thể về đánh giá đất cho các mục đích khác nhau: - Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mƣa (Land evaluation for rainfed agriculture, 1983) - Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tƣới (Land evaluation for Irrigated agriculture, 1985) - Đánh giá đất đai cho lâm nghiệp (Land evaluation for Forestry, 1984) 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đánh giá đất đai cho mục tiêu phát triển (Land evaluation for Development, 1990) - Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống nông trại cho quy hoạch sử dụng đất (Land evaluation and Farming system analysis for land use planning, 1992) 1.
Ở Việt Nam Việc phân hạng đất đai ở Việt Nam đƣợc thực hiện trong các thời phát triển từ thời kỳ phong kiến đến nay. Tuy khác nhau về mục tiêu cụ thể (tính chất của đất hoặc tính chất của đất và năng suất lúa.) nhƣng đều có sự thống nhất ở chỗ phân ra các hạng đất tốt, xấu để phục vụ cho việc định thuế đất (thời kỳ phong kiến, Pháp thuộc) hoặc quy hoạch sử dụng đất các vùng chuyên canh (thời kỳ Pháp thuộc), hoặc tính thuế đất nông nghiệp, quy hoạch sử dụng đất cho các vùng chuyên canh hợp tác xã, xã, huyện. Sau năm 1945 tức là sau cách mạng tháng 8 thành công đến cuối những năm 60 của thế kỷ XX ở nƣớc ta vẫn chủ yếu sử dụng các kết quả phân hạng đất đai từ thời nhà Nguyễn và thời Pháp thuộc. Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp trong nhiều năm qua đã thực hiện nhiều công trình, đề tài nghiên cứu về đánh giá, phân hạng đất đai.
Công tác đƣợc triển khai rộng rãi trên toàn quốc, từ phân hạng đất tổng quan toàn quốc (Tôn Thất Chiểu, Hoàng Ngọc Toàn – 1980-1985) đến các tỉnh thành và các địa phƣơng với nhiều đối tƣợng cây trồng, nhiều vùng chuyên canh và các dự án đầu tƣ của cả nƣớc. Đánh giá phân hạng đất đai đã trở thành quy định bắt buộc trong công tác quy hoạch sử dụng đất của Viện. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ban hành tiêu chuẩn 10 TCN 343-98 về quy trình đánh giá đất đai phục vụ nông nghiệp. Từ đầu những năm 1970, Bùi Quang Toản cùng nhiều nhà khoa học của Viện Thổ nhƣỡng – Nông hóa đã nghiên cứu và thực hiện công tác đánh giá, phân hạng đất đai ở 23 huyện, 286 hợp tác xã và 9 vùng chuyên canh.Từ kết quả nghiên cứu đã xây dựng thành quy trình kỹ thuật phân hạng đất áp dụng cho các hợp tác xã và các vùng chuyên canh.
Việc phân hạng này tiến hành theo thang điểm và đất đƣợc phân chia thành 4 hạng: tốt, khá, trung bình và kém. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Năm 1993 Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp đã chỉ đạo thực hiện công tác đánh giá đất trên cả 9 vùng sinh thái của cả nƣớc với bản đồ tỷ lệ 1/250. Kết quả ban đầu đã xác định đƣợc tiềm năng đất đai của các vùng và khẳng định việc vận dụng nội dung, phƣơng pháp đánh giá đất của FAO theo tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể của Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Năm 1993Chính phủ đã ban hành Nghị định 73 “Quy định chi tiết về việc phân hạng đất tính thuế sử dụng đất nông nghiệp”.
Căn cứ để phân hạng đất là các yếu tố: chất đất, vị trí, địa hình, điệu kiện khí hậu và điều kiện tƣới tiêu. Đối với cây trồng hàng năm và đất nuôi trồng thủy sản đƣợc phân thành 6 hạng. Đối với đất trồng cây lâu năm và cây ăn quả đƣợc phân thành 5 hạng. Hạng đất đƣợc xác định theo phƣơng pháp cho điểm, có tham khảo năng suất và hiệu quả kinh tế của cây trồng.
Một số vấn đề cơ bản trong quy hoạch sử dụng đất theo hƣớng bền vững. Khái niệm quy hoạch sử dụng đất Về mặt thuật ngữ, “quy hoạch” là việc xác định một cách trật tự nhất định nhƣ phân bố, bố trí, tổ chức, sắp xếp. “Đất đai” là một phần của lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất.) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc mới tạo thành (đặc tính thổ nhƣỡng, điều kiện địa hình, địa chất, thủy văn, chế độ nƣớc, nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật, các tính chất lý, hóa,.), tạo nên những điều kiện nhất định cho việc sử dụng theo các mục đích khác nhau. Nhƣ vậy, để sử dụng đất cần phải làm quy hoạch – đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác định ý nghĩa, mục đích của từng phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử dụng đất nhất định.
Về mặt bản chất của quy hoạch sử dụng đất cần đƣợc xác định trên quan điểm nhận thức: đất đai là đối tƣợng của các mối quan hệ sản xuất trong lĩnh vực sử dụng đất (gọi là các mối quan hệ đất đai) và việc tổ chức sử dụng đất nhƣ “tƣ liệu sản xuất” phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quy hoạch sử dụng đất là một hiện tƣợng kinh tế - xã hội thể hiện đồng thời 3 tính chất: kỹ thuật, pháp lý và kinh tế. Trong đó: Tính chất kỹ thuật: bao gồm các tác nghiệp chuyên môn nhƣ điều tra, khảo sát, xây dựng bản đồ, xử lý số liệu. Tính pháp lý: xác nhận tính pháp lý về mục đích và quyền sử dụng đất theo quy hoạch nhằm đảm bảo sử dụng và quản lý đất đai đúng pháp luật.
Tính kinh tế: thể hiện bằng hiệu quả sử dụng đất. Có thể định nghĩa về quy hoạch sử dụng đất nhƣ sau: “Quy hoạch sử dụng đất là hệ thống các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, pháp chế của Nhà nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao; thông qua việc phân bố quỹ đất đai cho các mục đích sử dụng và tổ chức sử dụng đất như tư liệu sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội, tạo điều kiện bảo vệ đất và bảo vệ môi trường”.