MỞ ĐẦU 1. Hoa Tulip hay còn gọi là hoa Uất Kim Cương thuộc lớp một lá mầm Liliopsida, bộ hành Liliales, họ hành Liliaceae, chi Tulila. Hoa tulip là biểu tượng của tình yêu hoàn hảo, của sự thắng lợi. Hoa tulip có nhiều màu sắc như: Màu đỏ, màu vàng, màu kem, màu xanh,màu đỏ viền vàng, màu vàng viền trắng, màu hồng… Hình dáng hoa cũng đa dạng như: hình trụ, hình chén, hình vuông, hình tháp, hình lục lăng,… Hoa tulip là một loài hoa đẹp được trồng rất nhiều ở Hà Lan, là loại hoa có nhiều màu sắc và chủng loại, được người tiêu dùng ưa thích và đem lại giá trị kinh tế cao.
Ở nước ta hiện nay chỉ được trồng nhiều tại Mộc Châu và Đà Lạt, tại Thái Nguyên những năm gần đây cũng được đưa ra trồng thử nghiệm một số tính trạng. Thái Nguyên có vị trí gần thủ đô Hà Nội và là trung tâm của vùng trung du Bắc bộ, có hệ thống giao thong thuận lợi, nối liền các tỉnh thành phố phát triển từ lâu, dân cư đông đúc, là nơi tập trung của nhiều trường Đại học và các cơ quan Trung ương khác. Đây là thị trường tiềm năng và là đầu mối thuận lợi cho việc tiêu thụ hoa, cây cảnh. Với địa hình đa dạng, có nhiều chủng loại đất ở các độ cao khác nhau, có thể phát triển nhiều chủng loại hoa và có khí hậu Á nhiệt đới có 4 mùa rõ rệt, có một số tiểu vùng khí hậu nhỏ, vì vậy có thể phát triển một số loại hoa cây cảnh nhiệt đới, á nhiệt đới và cả ôn đới.
Bên cạnh đó được sự quan tâm, ủng hộ, giúp đỡ và chỉ đạo của lãnh đạo các cấp các ngành từ tỉnh đến huyện, xã, phường trên địa bàn Thái Nguyên trong việc phát triển nghề hoa. Người dân trồng hoa tại Thái Nguyên đều có một số kinh nghiệm nhất định trong lĩnh vực sản xuất hoa, cây cảnh. Việc sản xuất hoa đã khẳng định được hiệu quả kinh tế hơn hẳn so với các loại cây trồng khác trên n 2 địa bàn, chính vì vậy thị trường hoa của Thái Nguyên trong những năm qua đã có nhiều bước chuyển nổi bật nhưng vẫn còn chưa đa dạng về chủng loại và cũng chưa đáp ứng được nhu cầu chơi hoa của người dân. Để lựa chọn các giống hoa tulip có chất lượng cao, phù hợp với điều kiện sinh thái địa phương, đáp ứng được thị hiếu ngày càng cao của người tiêu dùng, đồng thời đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển của một số giống hoa tulip, chúng tôi thực hiện đề tài: “Đánh giá một số giống và ảnh hưởng của giá thể đến sự sinh trưởng, phát triển của hoa Tulip Hà lan tại Thái Nguyên”.
Mục đích và yêu cầu của đề tài. - Lựa chọn được giống hoa tulip có năng suất, chất lượng tốt và thích nghi với điều kiện sinh thái của Thái Nguyên và xác định một số loại giá thể phù hợp cho hoa Tulip để nâng cao năng suất, chất lượng hoa và tăng hiệu quả kinh tế sản xuất. - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất, chất lượng của một số giống hoa tulip tham gia thí nghiệm. - Đánh giá ảnh hưởng của các loại giá thể đến khả năng sinh trưởng, phát triển và cho năng suất, chât lượng đến hoa tuylip Hà Lan.
Ý nghĩa trong công tác học tập và nghiên cứu khoa học. - Nghiên cứu khoa học, đúc rút kinh nghiệm và củng cố những kiến thức lý thuyết đã học. - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học có giá trị làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về cây hoa tulip trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa thực tiễn.
Sự phù hợp của các giống hoa tulip với điều kiện sinh thái của tỉnh Thái Nguyên sẽ góp phần đa dạng hóa các chủng loại hoa của Thái Nguyên, từ đó nâng cao thu nhập và hiệu quả kinh tế, đáp ứng yêu cầu của ngành sản xuất hoa. Tìm ra được loại giá thể phù hợp nhất để trồng hoa tuylip cho năng suất, chất lượng ổn định và hiệu quả kinh tế cao. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học.
Cơ sở khoa học nghiên cứu giống. Cây hoa tuylip rất đa dạng và phong phú về giống, tuy nhiên mỗi giống thích hợp với từng điều kiện khí hậu tự nhiên khác nhau, sẽ cho năng suất chất lượng và hiệu quả kinh tế cao nếu chúng ta nắm được đặc tính của mỗi giống được trồng trên địa bàn. Nghiên cứu về giống cho chúng ta nắm được phương pháp chăm sóc đối với từng giống, mỗi giống thích hợp mỗi kiểu chăm sóc khác nhau để chúng ta nắm được và đưa ra các biện pháp kĩ thuật, quy trình chăm sóc cụ thể cho từng giống. Vì vậy nghiên cứu về giống để đánh giá phẩm chất và phương thức chăm sóc cho từng giống là không thể thiếu trong các nghiên cứu, đánh giá về hoa tuylip, làm cơ sở cho việc trồng, chăm sóc và làm kinh tế từ loài hoa này.
Cơ sở khoa học nghiên cứu giá thể. Cơ sở khoa học. Nghiên cứu về giá thể cũng là một nghiên cứu hết sức quan trọng đối với việc trồng hoa tuylip: Giá thể có rất nhiều loại nhưng hầu hết đều được phối trộn từ các vật liệu dễ kiếm trong tự nhiên như: trấu hun, xơ dừa, mùn cưa, than bùn, cát, bột đá, tuy nhiên giá thể được tạo ra phải có độ thông thoáng và giữ nước tốt. Giá thể giúp cây đứng vững và cung cấp một số chất dinh dưỡng thiết yếu cho cây, mỗi loại giá thể tạo độ tơi xốp, khả năng giữ nước khác nhau, có độ pH khác nhau, độ bền và chứa chất dinh dưỡng khác nhau vì vậy cần nghiên cứu để đánh giá mức độ phù hợp của từng loại giá thể để có thể ứng n 5 dụng vào việc trồng và chăm sóc hoa tuylip sao cho có năng suất, chất lượng và độ hiệu quả cao nhất.
Các nghiên cứu về giá thể. Giá thể là loại có khả năng giữ nước tương đương với độ thoáng khí. Khả năng giữ nước và độ thoáng khí của giá thể được quyết định bởi những khoảng trống (khe, kẽ) trong nó. Trong cát mịn có những khoảng trống rất nhỏ, không chứa được nhiều nước và oxi.
Ngược lại sỏi thô tạo ra những khoảng trống khá lớn, nhiều không khí nhưng mất nước nhanh [16]. Giá thể có những đặc điểm giữ nước cũng như thoáng khí, có pH trung tính và có khả năng ổn định pH, thấm nước dễ dàng, bền và có khả năng tái sử dụng hoặc phân hủy ngoài môi trường, nhẹ và rẻ rất thông dụng. Giá thể thì có nhiều loại như xơ dừa, trấu hun, mùn cưa, cát, sỏi vụn (cỡ hạt đậu), đá trân châu,…Có thể dùng đơn lẻ hoặc trộn lại để tận dụng ưu điểm từng loại. Vì vậy, trồng cây trong giá thể, dinh dưỡng được cung cấp cho cây thông qua phân bón trộn trong giá thể và bón thúc.
Giá thể được để trong những khay chậu. Khay chậu có thể là gỗ, đất nung, sành sứ,…tùy vào điều kiện mà người trồng có thể chọn lựa và sử dụng theo sở thích của mình[17]. Giá thể là khái niệm dùng để chỉ tất cả các vật chất bao quanh bộ rễ của cây trồng. Việc sử dụng các giá thể phù hợp có ý nghĩa đặc biệt đối với cây trồng.
Giá thể được sử dụng hiện nay gồm: Than củi, gạch nung, rêu, xơ dừa, rễ bèo tây, vỏ cây, rễ dương xỉ, trấu hun, sỏi, đất, bã nấm., * Mùn xơ dừa: Là giá thể tơi xốp, thoáng khí, dễ thấm nước, giữ ẩm cao, không mang mầm bệnh, chứa nhiều vi sinh vật có lợi cho đất, rẻ tiền, dễ kiếm. Tuy nhiên cũng có nhược điểm thoát nước nhanh, chóng mục, vì vậy dễ bị sâu bệnh. n 6 * Trấu hun: Rẻ, dễ làm, thoát nước, nhẹ dễ vận chuyển, cung cấp chất khoáng, làm cứng cây. Tuy nhiên không có chất hữu cơ, kém dinh dưỡng, hấp thụ nhiệt mạnh nên chỉ dùng cho giâm cây bằng hom và trồng cây giai đoạn đầu.
Từ những năm 60 của thế kỷ 20, ở Liên Xô cũ đã tiến hành nghiên cứu và ứng dụng kỹ thuật trồng cây con trong túi nilông trong nhà lưới có mái che đã đạt được kết quả cao. Sau đó phương pháp này đã được phổ biến trong sản xuất nông nghiệp. Phần cải tiến kỹ thuật vườn ươm, nó đã trở thành một nghề kinh doanh, một số nông dân sản xuất cây con với số lượng lớn để bán cho nông dân khác. Đất không phải là môi trường tốt cho cây con.
Cho thêm cát hoặc cát + than bùn sẽ tạo ra một hỗn hợp rất tốt. Nhiều nơi đã và đang phát triển những hỗn hợp đặc biệt mà có thể được sử dụng. Những hỗn hợp này không sử dụng đất ruộng khi đất ruộng bị ô nhiễm do sâu bệnh và do hoá chất. Sự khác nhau của môi trường nhân tạo được thể hiện như sau: Theo Lawtence, Neverell (1950)[12], cho biết ở Anh sử dụng hỗn hợp đất + than bùn + cát thô (tính theo thể tích) có tỷ lệ 2:1:1 để gieo hạt, để trồng cây là 7:3:2 Bunt (1965)[10] sử dụng hỗn hợp cho gieo hạt (theo thể tích 1 than bùn rêu nước + 1 cát +2,4kg/m 3 đá vôi nghiền và hỗn hợp trồng cây 3 than bùn rêu nước + 1 cát + 1,8kg/m3 đá vôi nghiền đều cho thấy cây con mập và khoẻ.
Masstallerz (1977)[13] cho biết ở Mỹ đưa ra công thức phối trộn (tính theo thể tích) thành phần hỗn hợp bầu bao gồm sét và mùn cát sét và mùn cát có tỷ lệ 1:2:2; 1:1:1 hay 1:2:0 đều cho hiệu quả. Cho thêm 5,5 – 7,7g bột đá vôi và 7,7 – 9,6g Superfosfat cho một đơn vị thể tích. Nghiên cứu thành phần giá thể cho cây con cà chua ở Philippin, Duna (1997) [14] cho biết với một khay có kích thước 35x21x10 con có 72 lỗ (kích n 7 thước lỗ là 6x6cm) thì thành phần bầu có tỷ lệ đất, phân chuồng, trấu hun, là 1:1:1 (theo thể tích) và 10g NPK (15:15:15). Đối với cây ớt nhiệt độ thích hợp cho sự nảy mầm của hạt là 20- 30oC.Số ngày trung bình sau khi gieo hạt cho tới khi cây mọc ở t0 đất khác nhau là khác nhau.
Sự nảy mầm của hạt có thể thay đổi phụ thuộc vào giống, chất lượng hạt giống và hỗn hợp đất gieo trồng. Theo Kaplina (1976)[11] thì đối với cùng một loại cây nhưng với thành phần giá thể khác nhau cho năng suất khác nhau: Để gieo hạt cải bắp cải xanh nếu thành phần giá thể gồm 3 phần mùn + 1 phần đất đồi + 0,3 phân bò và trong 1 kg hỗn hợp trên cho thêm 1g N, 4g P2O5, 1g K2O thì năng suất sớm đạt 181,7 tạ/ha.