Chương I: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nước thải công nghiệp Chương II: Thực trang quản lý nước thải công nghiệp tai Công ty TNHH Giấy Triệu Phát. Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả của hệ thống xử lý nước thải tại Công ty TNHH Giấy Triệu Phát. 11 CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THỰC TIEN VE QUAN LÝ NƯỚC THAI CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý nước thải công nghiệp 1.
Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm về “Môi trường” Tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2014, môi trường được định nghĩa: “Môi trường là hệ thống các yếu tô vật chat tự nhiên và nhân tạo có tác động đôi với sự tôn tại và phát triên của con người và sinh vật”. Cho đến năm 2020, Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam cũng đã có sự thay đôi trong việc định nghĩa môi trường: “Môi trường bao gồm các yếu tô vật chat tự nhiên và nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sông, kinh tê, xã hội, sự tôn tại, phát triên của con người, sinh vật và tự nhiên”. Còn theo UNESCO: “Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các yếu tố vật chất do hoạt động của con người tạo ra, trong đó con người sinh sống bằng lao động, đã khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn nhu câu của con người”. Như vậy, khi nói đến môi trường, ta xem xét đến các yếu tố tự nhiên mà sự ra đời, tồn tại của nó mang tính khách quan.
Các hệ thống yếu tố tự nhiên bao gồm khí quyền, thạch quyền, thủy quyền và sinh quyền. Và khi nói đến môi trường thường gắn môi trường đó với môi trường sống của con người cho nên các khái niệm về môi trường được nêu trên có đưa ra nội hàm của môi trường đó là các yếu tố nhân tạo, các yếu tố do con người tao ra. Gitta các yéu tố tự nhiên và nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau. Tất cả những yếu tố này đều có sự ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của con người cũng như đời sông của sinh vật.
- Khái niệm “O nhiễm môi trường” Cũng theo Luật BVMT năm 2014: “O nhiễm môi trường là sự biến đối của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuân môi trường gây ảnh hưởng xâu đên con người và sinh vật”. Khái niệm này đã được sửa đổi, bổ sung thêm tại Luật BVMT năm 2020: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi tính chất vật lý, hóa học, sinh học của thành phần 12 môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường, tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xâu đên sức khỏe con người, sinh vật và tự nhiên”. Qua hai cách định nghĩa về môi trường ở trên, có thể nói ô nhiễm môi trường chính là việc các chất thải hoặc năng lượng được chuyên hóa đến mức có khả năng làm ảnh hưởng tới sức khỏe con người, tới sự phát triển của sinh vật hoặc làm giảm chất lượng môi trường. Nguyên nhân gây nên sự ô nhiễm là các loại chất thải ở dạng khí, dạng lỏng, dạng rắn chứa các hóa chất hoặc các tác nhân vật lý cũng như sinh học.
Thế nhưng môi trường được coi là ô nhiễm khi hàm lượng hoặc nồng độ các chất thải vượt mức quy định, ảnh hưởng xấu tới con người và môi trường xung quanh. - Khái niệm “Nước thải công nghiệp” Tại Khoản 2 Điều 2 của Nghị định số 67/2003/ND — CP về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải đã nêu: “Nước thải công nghiệp là nước thải ra môi trường từ các cơ sở sản xuất công nghiệp, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản”. Hay có một định nghĩa khác về nước thải công nghiệp theo Quy chuan Việt Nam QCVN 40:2011/BTNMT: “Nước thải công nghiệp là nước thải phát sinh từ quy trình công nghệ của cơ sở sản xuất, dịch vụ công nghệ (sau đây gọi chung là cơ sở công nghiệp), từ nhà máy xử lý nước thải tập trung có đấu nối nước thải của cơ sở công nghiệp”. Và đến năm 2020, Chính phủ đã sửa đồi, bổ sung khái niệm “nước thải công nghiệp”.
Ở Khoản 2 Điều 2 Nghị định 53/2020/ND — CP (Có hiệu lực từ 01/07/2020) đã nêu: “Nước thải công nghiệp là nước thải từ các nhà máy, địa điểm, cơ sở sản xuất, chế biến (sau đây gọi chung là cơ sở) của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân”. Dễ dàng nhận thấy được những điểm chung về nước thải công nghiệp từ các khái niệm trên. Đó là nước thải phát sinh từ các quá trình sản xuất của các cơ sở sản xuất, dịch vụ mà có sử dụng các nguồn nước và tạo ra chết thải ở dạng lỏng. Nước thải phát sinh từ quá trình sản xuất thường chứa nhiều chất ô nhiễm không chỉ gây ảnh hưởng tới môi trường nước mà còn tác động tới môi trường xung quanh, đặc biệt là con người và sinh vật dưới nước.
Chính vì vậy, các doanh nghiệp, nhà máy khi hoạt động phải có hệ thống xử lý nước thải công nghiệp trước khi thải ra môi trường. Nguồn gốc phát sinh nước thải công nghiệp và thành phan, tính chat 13 Nước thải công nghiệp có những nguồn gôc phát sinh khác nhau. Nó có thê phát sinh từ các cơ sở chê biên thực phâm hay phát sinh từ các cơ sở sản xuât giây và bột giây. Ngoài ra còn có nguôn gôc từ các cơ sở sản xuât nhuộm hoặc từ các cơ sở sản xuât chê biên kim loại, mạ kim loại.
Mỗi một loại hình sản xuất thì thành phần và tính chất có trong nước thải cũng khác nhau. Đối với nước thải từ hoạt động sản xuất thực phẩm thì liên quan tới tinh chất hữu cơ ở trong nước; hoạt động sản xuất giấy thì lại liên quan tới xút, chỉ số BOD va COD hay là tổng chất rắn lơ lửng (TSS). Còn với nước thải từ hoạt động chế biến kim loại và mạ kim loại lại liên quan tới kim loại nặng, dầu thải và liên quan tới các dung môi. Suy cho cùng, trong nước thải công nghiệp đều có một số thành phần, tính chất chung.
Nước thải của ngành chế biến thực phẩm So với các ngành công nghiệp khác trên thị trường, ngành công nghiệp chế biến thực phẩm đang dan phát triển va khang định được vị thé của mình trên đường đua thị trường. Công nghiệp chế biến thực phẩm rất đa dạng về ngành nghé và san pham, bao gồm: + Chế biến lương thực + Chế biến thủy sản + Chế biến thịt, sữa và các sản phẩm được làm từ chúng Trong quá trình sản xuất, nước thải phát sinh từ quá trình sơ chế, rửa nguyên liệu hay vệ sinh máy móc, thiết bị nhà Xưởng. Do đặc thù của ngành chế biến thực phâm đa dạng về sản phẩm và nguyên liệu đầu vào nên tính chất nước thải cũng đa dạng. Cũng giống như các ngành sản xuất khác, nước thải của ngành chế biến thực phẩm cũng chứa hàm lượng N, P, các thành phần TSS, BOD, COD, vi khuẩn khá cao.
Với những ngành chế biến thịt cá thường bị ô nhiễm nặng hơn so với chế biến lương thực. Bởi vì đặc trưng của ngành chế biến thịt, cá gồm các thành phần hữu cơ như mỡ, protein và chất béo. Một số ngành chế biến khác thì chứa độ mặn, độ mảu. Nước thải của ngành công nghiệp giấy 14 Như đã biết, ngành sản xuất giấy là ngành công nghiệp được hình thành và phát triển từ lâu, nhu cầu sử dụng của con người ngày càng cao.
Vì thế, việc xử lý nước thải trong quá trình sản xuất không phải là một vấn đề đơn giản. Sản xuất giây có từ nguyên liệu thô, chứa xenlulozo là chủ yếu. Trong nước thải của ngành sản xuất giấy gồm chất hữu cơ hòa tan, đất đá, thuốc bảo vệ thực vật. Ngoài ra, trong quá trình tây rửa của các nhà máy sản xuất thường chứa ligin hòa tan và các chat tay ở dạng độc hại.
Dòng thải này thì có độ màu, BODs va COD rất cao. Không chỉ có dòng thải từ các công đoạn trên mà dòng thải còn phát sinh từ quá trình nghiên bột và xeo giây. ở quá trình này chứa xơ sợi min và các chat phụ gia. Cuối cùng là dòng thải từ quá trình vệ sinh máy móc, thiết bị, dòng chảy tràn có hàm lượng các chât lơ lửng và chât rơi vãi.
Nước thai của ngành sản xuất xi mạ kim loại Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp xi mạ đang tạo được những bước đột phá trong nền kinh tế Việt Nam. Vì thế mà việc xử lý nước thải xi mạ cũng được chú trọng trong quá trình xi mạ kim loại hiện này. Nước thải xi mạ là loại nước thải có trong quá trình xi mạ hóa chất lên bề mặt kim loại. Tuy lượng nước thải trong quá trình không nhiều nhưng lại chứa hàm lượng kim loại nặng rat cao.
Nước thải xi mạ này thường có nồng độ va Ph biến đổi rộng từ 2 — 3 đến 10 — 11. Thanh phần đặc trưng chung của ngành công nghiệp này là chứa hàm lượng muối vô cơ và những kim loại nặng như: Zn, Cu, Cr, Fe. Ngoai ra còn tùy thuộc vào loại muối kim loại được sử dụng trong quá trình sản xuất mà nước thải sẽ chứa các loại độc tổ khác nhau như sunfat, xyanua. Lưu lượng nước thải công nghiệp Trong hoạt động sản xuất công nghiệp, nước được sử dụng như một nguyên liệu thô.
Nhu cầu sử dụng nước và lưu lượng nước thải trong sản xuất phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau. Đặc biệt, lưu lượng nước thải của các doanh nghiệp, của các hoạt động sản xuất được xác định chủ yếu bởi đặc tính của sản phẩm mà doanh nghiệp đó sản xuât.1: Lưu lượng nước thải của một số ngành công nghiệp 15 TT Ngành công nghiệp Ước tính cho Lưu lượng nước thải 1 | Sản xuất bia 1 lít bia 5,65 lít 2 | Tinh chế đường 1 tấn củ cải đường 10 — 20m3 3 | Sản xuất bo sữa 1 tan sữa 5-6] 4 | Sản xuất giấy 1 tan sản phẩm 60 — 240m? 5 | Soi nhân tao 1 tan san pham 100m? 6 | Xinghiép tay trang 1 tan soi 1000 — 4000m3 (Nguôn: Giáo trình công nghệ xử lý nước thải, Tran Văn Nhân — Ngô Thi Nga) Qua bảng trên ta thấy được lượng nước thải của các ngành công nghiệp là không giống nhau. Có những ngành có lưu lượng thấp và ngược lại, có những ngành có lưu lượng rất lớn. Có sự khác này một phần là do trình độ công nghệ, nguyên liệu của sản phẩm sản xuất và năng suất của doanh nghiệp khác nhau.