MỞ ĐẦU 1. Tên đề tài: “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng kè mém bảo vệ bờ biển Cửa Đại, thành phố Hội An, tinh Quảng Nam và đề xuất giải pháp 6n định” 2. Tính cấp thiết của đề tài Cách phố cổ Hội An khoản 5 km về phía đông và cách Da Nang 30 km về phía Nam. Biển Cửa Đại là hợp lưu của ba con sông lớn ở Hội An đó là: sông Thu Bồn, Trường Giang và Dé Võng trước khi đồ về biển Đông.
Bờ biển Cửa Đại có chiều dài gan 8 km, là bờ biển đẹp của tỉnh Quảng Nam va là một trong những bãi biển đông du khách nước ngoài nhất Việt Nam. Khu vực nghiên cứu nằm dọc theo bờ biển thuộc địa bàn khối Phước Tân, phường Cửa Đại, Hội An, Quảng Nam có chiều dài hơn 3km. Nơi tập trung các khu nghỉ dưỡng lớn, chuỗi hệ thống resort cao cap, nhiều dự án khách san, nha hàng lớn hiện đại và tiện nghi nhưng được xây dựng thân thiện với môi trường. Dân cư ở đây sống chủ yếu dựa vào nghề khai thác hải sản và không ai khác, là những người sống bằng nghề buôn gánh bán bưng, phục vụ khách du lịch.
Họ, đã may chục năm ròng bam vào bờ biển nay dé sinh tôn và nuôi lớn con cái. Nỗi tiếng là bãi biển ôn hòa, mênh mông và rộng lòng bãi thoãi. Nhưng hình ảnh bãi cát trải dài tận chân trời cùng hàng phi lao chắn sóng và những rặng dừa hàng chục năm tuổi đã không còn. Thay vào đó là những bờ kè chắn sóng bằng bê tông cốt thép, bao tải, gạch đá nằm ngồn ngang, nhếch nhác.
Bãi cát trắng nỗi tiếng một thời giờ đã bị cày xới thành những hốc sâu, nham nhở, những cây dừa bị sóng đánh bật gốc, nằm đồ rạp bên bờ. Bởi thời gian qua, nạn nước biển xâm thực đã “nuốt chửng” hàng trăm mét bờ biến, phá đi hàng chục công trình trị giá hàng trăm tỷ đồng. Sat lở đã dần tiến lên khu vực phía Bắc biên Cửa Dai. Con đường ven biển của Hội An là đường Âu Co, trước đây bãi biên cách đường hơn 200m thi nay tình trang sat lở đã tiến sát chi còn cách đường vài chục mét.
Hiện nay, hiện tượng xói lở và bồi lấp xảy ra ngày càng nghiêm trọng, diễn biến phức tạp, ảnh hưởng lớn đến đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế của địa phương. Hiện tại khu vực nay chưa có công trình bảo vệ bờ, các giải pháp mang tính tự phát của các doanh nghiệp (đầu tư lưới thép rào quanh các cọc tre dé giữ những bao cát, kè bằng nhiều thanh sắt lớn chôn sâu dưới biển, dùng đá hộc và cọc tre, gỗ đóng dé giữ chân bờ kè) chỉ nhằm chống x6i lở bãi biển tại khu khách sạn của riêng mình, chứ không tính tới việc một bờ biển dai sẽ bị tác động xấu. Một số nơi người ta xây tường, kè thắng đứng để chắn sóng, làm vậy sóng đập vào tạo sóng phản xạ, đào thêm cát mang đi. Về nguyên tắc, chan sóng bên ngoài và giữ cát bên trong mới giữ được bờ biển.
Phương pháp kè mềm bằng vải địa kỹ thuật chứa cát ở trong mà các chuyên gia kè biển giới thiệu là một trong những phương án tối ưu giải quyết được những van dé trên. Giải pháp này thay thé cho các phương pháp bảo vệ bờ biển truyền thống như bê tông, đá hdc, thép hoặc cir tram. Hệ thống các túi vải địa kỹ thuật được lắp cát này hạn chế việc mất đi hoặc di chuyên của cát do tác động của sóng, các dòng thủy triều và hải lưu, làm giảm kích cỡ và năng lượng của sóng, làm tiêu sóng khỏi bờ biển, tạo ra kết cầu chắn gió hình thành nên vũng nước được che chắn, chống lại các áp lực gây ra xói lở bờ biển. Giải pháp này có nhiều ưu điểm như thân thiện với môi trường, tạo cảnh quan môi trường, sử dụng vật liệu sẵn có tại địa phương là cát dé bảo vệ bờ biển, giảm giá thành các công trình xây dựng.
Vì vậy, việc “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng kè mềm bảo vệ bờ biển Cửa Đại khối Phước Tân, phường Cửa Đại, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam và đề xuất giải pháp 6n định” nhằm đánh giá hiệu quả của giải pháp công trình kè mềm, từ đó có kiến nghị nhân rộng mô hình trên cho các bãi biên lân cận hay không 1a hêt sức cân thiệt. ` f DONG GIANG \ TÂY GIANG "= NAM GIANG PHƯỚC SƠN KON TUM DOAN BO BIEN PHUONG CUA DAI - Nghiên cứu các yêu tô ảnh hưởng đên công trình kè mêm. - Đánh giá, kiêm tra cho công trình kè mêm hiện trạng bảo vệ bờ biên Cửa Đại, Hội An - Đề xuất giải pháp nâng cao 6n định cho đoạn kè mềm mới bảo vệ bờ biển Cửa Dai, Hội An hiện nay. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.
Đối tượng nghiên cứu Các nhân tố gây mat ôn định cho công trình kè mềm bảo vệ bờ biển 4. Phạm vi nghiên cứu Đoạn kè mềm điển hình cho bờ biển khối Phước Tân, phường Cửa Dai, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 5. Cách tiếp cận Đề đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã lựa chọn các hướng tiếp cận một cách toàn diện, đi từ đánh giá đến kế thừa các kết quả, phương pháp nghiên cứu đã thực hiện, phân tích đầy đủ các cơ sở khoa học vững chắc dé đưa ra các kiến nghị, đề xuất phương pháp tính toán và giải pháp phù hợp nâng cao 6n định cho kè mềm bảo vệ bờ biển Cửa Đại, Hội An.
Phương pháp nghiên cứu Dé thực hiện đề tài, tác giả sử dung chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau: - Phương pháp thống kê và phân tích số liệu thực đo. - Phương pháp điều tra thực địa. - Phương pháp nghiên cứu trên mô hình toán. Các kết quả đạt được - Trên cơ sở nghiên cứu, tông quan về thực trạng xói lở bờ biên Cửa Đại, Hội An tác gải chỉ ra được nguyên nhân gây mât ôn định và các yêu tô ảnh hưởng đên công trình kè mêm hiện nay.
- Đề xuất được biện pháp nghiên cứu ồn định cho giải pháp bảo vệ bờ biển Cửa Đại đoạn xói lở hiện nay chưa được bảo vệ. TONG QUAN VE CÁC GIẢI PHÁP CHÓNG XÓI LO BO BIEN TREN THE GIỚI VÀ TRONG NƯỚC 1. Các nghiên cứu về xói lở, bôi tụ cửa sông, bờ biên trên thê giới và Việt Nam 1. Các nghiên cứu về xói lở, bồi tụ cửa sông, bờ biển trên thế giới Xói lở và bôi tụ bờ biển là kết quả của hoạt động địa động lực biển hoặc địa động lực biển kết hợp địa động lực dòng sông, thường xuyên xảy ra ở các bờ biên trên toàn thé giới với những mức độ, cường độ và phạm vi ảnh hưởng khác nhau.
Nó không chi được các ngành khoa học quan tâm mà còn thu hút sự chú ý của các nhà quản lý. Ở không ít nơi, bồi tụ xói lở trở thành mối lo sâu sắc của các cấp chính quyên, nhân dân địa phương, uy hiếp đến sự an toàn của nhiều công trình, cơ sở kinh tế ven biển. Hiện tượng xói lở, bồi tụ bờ biển là một trong những thiên tai nặng nề nhất làm mat dat, sa bôi luồng cảng, anh hưởng đến dân sinh kinh tế. Nghiên cứu các quá trình thủy thạch động lực, biến đổi địa hình tại vùng ven biển, cửa sông đã được phát triển rất mạnh tại Trung tâm thủy lực Hà Lan với bộ chương trình DELFT3D, UNIBEST, SWAN; Viện Thủy lực Dan Mạch với các bộ chương trình: MIKE 21, MIKE 3, LITPACK,.
Nghiên cứu, đánh giá các vùng cửa sông ven biển thông qua các yếu tố hải văn có tác giả như Zubov N. Một số mô hình tính toán, dự báo các quá trình sóng, dòng chảy, vận chuyền bồi tích và biến đổi địa hình như mô hình tính sóng vùng khơi STWAVE (Tolman, 1991); mô hình mô phỏng quá trình diễn biến lòng dẫn sông như: mô hình HEC của Mỹ, mô hình toán MIKE của Viện kỹ thuật tài nguyên nước và môi trường Đan Mạch. Và còn có một số nghiên cứu về dòng chảy dọc bờ do sóng đồ nhào gây ra của các tác giả như: Phạm Thành Nam và Magnus Larson (2010) đã nghiên cứu dòng chảy dọc bờ do sóng đồ nhào gây ra tại bãi biên Leadbetter, Thụy Điển. Nhưng chỉ xây dựng các công trình chưa đủ mà cần phải đánh giá và khắc phục tác động của các công trình gây ra.
Griggs và cộng sự (1990) đã tiến hành đánh giá các tác động của các công trình bảo vệ bờ như tường biên, kè phủ mái,. lên sự xói lở - bồi tụ đường bờ và bãi tại vịnh Monterey, California (Mỹ) và đã đề xuất các giải pháp giảm nhẹ tác động. Work và cộng sự (2004) đã đánh giá sự xói lở đường bờ do tác động của việc nạo vét vùng ven bờ lây vật liệu đê nuôi bãi. Hiện nay với kỹ thuật tiên tiến người ta đã áp dụng các giải pháp công trình “mềm” dé chống x6i lở đường bờ và bãi.
Những công trình “mềm” này it gây tác động đến môi trường xung quanh, đặc biệt nó thường được ưu tiên ap dụng tại các bãi tắm du lịch. Các nghiên cứu về xói lở, bi tụ cửa sông, bờ biển trong nước Xói lở bờ biển, cửa sông là dạng thiên tai nặng nề xảy ra hầu hết ở cả ba miền Bắc- Trung-Nam của nước ta, diễn biến hết sức phức tạp gây thiệt hại lớn về người, tài sản, công trình, kinh tế - xã hội và môi trường sinh thái. Chính quyền các địa phương đã nhanh chóng xây dựng các công trình bảo vệ bờ và những công trình lắn biên. Nhưng, khi công trình được xây dựng xong thì quá trình tương tác giữa công trình với bờ cũng như các quá trình thủy thạch động lực và các yếu tổ môi trường xung quanh xảy ra là chuyện đương nhiên.
Và những tương tác đó là hoàn toàn tự nhiên dé thiết lập một trạng thái cân băng mới của các quá trình thủy thạch động lực tại khu vực công trình và lân cận. Các công trình đó đã chặn dòng bùn cát dọc bờ, làm thay đổi phân bố năng lượng của trường sóng tới. Do vậy, hình thành quá trình xói lở, bồi tụ mới. Trong thời gian qua, trên bờ biển nước ta các hoạt động xói lở và bồi tụ bờ biển thường xuyên xảy ra với nhiều kiểu, dạng, quy mô và cường độ tác động khác nhau.
các cửa sông bị bồi lấp đều được xây kè bảo vệ như Hội An (Quảng Nam), Phan Rí, Phan Thiết. (Bình Thuận); Nha Trang (Khánh Hòa); Cần Giờ (Tp.