CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI TẠI CÁC VƯỜN QUỐC GIA 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của Vườn quốc gia 1. Khái niệm Vườn quốc gia Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) thì vườn quốc gia (VQG) là khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặc vùng biển, được chọn để: - Bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai; - Loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực; - Chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và tham quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường. Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TT ngày 11 tháng 01 năm 2001 về Quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau: Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp.
Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái. Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: Về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn. Vai trò của Vườn quốc gia Để bảo vệ các khu vực tự nhiên và cảnh quan có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế phục vụ cho mục đích vui chơi, giải trí, giáo dục, nghiên cứu khoa học, đời sống tinh thần hay du lịch; Để duy trì một cách lâu dài hiện trạng tự nhiên, các minh họa đặc trưng của các vùng địa sinh học, quần thể sinh học, nguồn gen và các loài khác nhau, bảo đảm ổn định và đa dạng về sinh thái; Để quản lý khách du lịch trong việc sử dụng các dịch vụ vui chơi, giải trí, văn hóa, giáo dục sao cho vẫn duy trì được đặc điểm tự nhiên hoặc gần gũi với thiên nhiên; Để ngăn ngừa và sau đó chấm dứt các hoạt động khai thác và chiếm giữ làm tổn hại đến mục tiêu đã xác định; Duy trì và tôn trọng các giá trị sinh thái, địa mạo, thiêng liêng, hay thẩm mỹ đã được xác định; Quan tâm đến nhu cầu của người dân tộc bao gồm cả việc sử dụng nguồn tài nguyên từ trước đến nay của họ vì họ sẽ không gây tác động xấu đến các mục tiêu quản lý khác. Khái niệm, đặc điểm và nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái 1.
Khái niệm “Du lịch sinh thái” là một khái niệm tương đối mới nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Cho đến nay, khái niệm về du lịch sinh thái vẫn còn hiểu dưới nhiều góc độ và tên gọi khác nhau. Mặc dù những tranh luận vẫn còn tiếp tục nhằm đưa ra định nghĩa chung được chấp nhận về du lịch sinh thái, nhưng đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế chính thức về du lịch sinh thái đều cho rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái. Theo định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (The International Ecotourism Society - TIES, 2005): “Du lịch sinh thái (ecotourism) là du lịch có trách nhiệm đối với các khu vực tự nhiên nhằm bảo tồn môi trường, duy trì cuộc 7 sống của người dân địa phương đồng thời liên quan đến việc diễn giải, giáo dục thúc đẩy nhận thức về giá trị tự nhiên, môi trường và văn hóa địa phương.” Hiểu theo một cách đơn giản, hình thức du lịch đến một địa điểm còn hoang sơ thiên nhiên chưa có sự thay đổi bởi con người để trải nghiệm và có trách nhiệm bảo vệ và giữ gìn môi trường ở đó với mục đích chính là tham quan, trải nghiệm và khám phá đồng thời trân trọng sự tự nhiên ở đó và không làm thay đổi sự nguyên sơ.
Ngoài ra, việc trải nghiệm du lịch sinh thái còn với mục đích tạo ra các cơ hội về kinh tế trên nguyên tắc giữ gìn và bảo tồn thiên nhiên, đem lại nguồn lợi cho cộng đồng địa phương ở đó. Tại Việt Nam, khái niệm du lịch sinh thái mới thực sự được nghiên cứu vào những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ XX và thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Tại Hội thảo về "Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” năm 1999, khái niệm du lịch sinh thái ở Việt Nam lần đầu được thông qua: “Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Đặc điểm hoạt động và vai trò của du lịch sinh thái 1.
Đặc điểm Du lịch sinh thái là gì? Nó là một dạng của hoạt động du lịch, bao gồm tất cả những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung. Chẳng hạn như: Tính đa thành phần: Nó được biểu hiện thông qua sự đa dạng về thành phần các khách du lịch, người phục vụ du lịch hay cộng đồng địa phương, tổ chức chính phủ, phi chính phủ và những tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch sinh thái. Tính đa ngành: Thể hiện thông qua các đối tượng được khai thác nhằm phục vụ cho mục đích du lịch. Tính đa mục tiêu: Đặc trưng này biểu hiện cho những lợi ích của du lịch sinh thái về bảo tồn nguồn tài nguyên thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn hóa nhằm nâng cao chất lượng của du khách tham quan và tham gia vào những hoạt động của du 8 lịch.
Đồng thời mở rộng về sự giao lưu kinh tế, văn hóa, góp phần nâng cao về ý thức trách nhiệm của tất cả các thành viên có trong xã hội. Tính liên vùng: Thể hiện dựa trên những tuyến du lịch khác nhau, với một quần thể gồm các điểm du lịch của một khu vực hay một quốc gia nào đó hoặc có thể là giữa các quốc gia đối với nhau. Tính mùa vụ: Ở đây ý muốn nói tới hoạt động du lịch diễn ra sôi nổi nhất vào mùa vụ nào trong năm. Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa, hay loại hình du lịch cuối tuần,… Tính chi phí: Thể hiện ở mục đích đi du lịch chính là hưởng thụ về những sản phẩm du lịch chứ không phải là với mục tiêu kiếm tiền.
Tính giáo dục cao về môi trường: Loại hình du lịch sinh thái sẽ giúp con người gần gũi với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn. Nơi đây sẽ có giá trị cao về sự đang dạng của sinh học và rất nhạy cảm đối với vấn đề môi trường. Vì thế hoạt động du lịch sẽ gây ra những áp lực lớn đối với môi trường và du lịch sinh thái sẽ giúp cân bằng về mục tiêu phát triển của du lịch đối với vấn đề bảo vệ môi trường. Vai trò Lợi ích về kinh tế: Du lịch sinh thái góp phần vào việc làm tăng thêm nguồn tài nguyên thiên nhiên của ngành du lịch và nâng cao vào việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch.
Khi du lịch sinh thái phát triển còn giúp tạo điều kiện về công ăn, việc làm cũng như thu nhập cho những cộng đồng trong và ngoài khu vực tổ chức các hoạt động du lịch sinh thái. Từ đó góp phần cải thiện về tình hình kinh tế của địa phương giúp xóa đói giảm nghèo hiệu quả. Ngoài ra về lợi ích kinh tế, du lịch sinh thái cũng góp phần khôi phục cũng như phát triển về ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, tạo điều kiện cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Lợi ích về xã hội: Khi loại hình du lịch sinh thái phát triển sẽ giúp cho con người gần gũi với tự nhiên hơn.
Đồng thời nhu cầu về tìm hiểu thiên nhiên của con người sẽ được đáp ứng thông qua loại hình du lịch này. Lợi ích về thẩm mỹ: Du lịch sinh thái sẽ giúp cho các nhà thiết kế tour được khảo sát những tuyến điểm du lịch để có thể bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. 9 Lợi ích sinh thái: Những loài động vật quý hiếm cũng được khôi phục, bảo vệ và gìn giữ dựa vào loại hình du lịch sinh thái. Đồng thời nó cũng giúp cho con người có trách nhiệm hơn đối với môi trường tự nhiên.
Nguyên tắc hoạt động của du lịch sinh thái Các nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái Có hoạt động giáo dục và diễn giải về môi trường: Một trong những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái để nhìn nhận một cách khác biệt với các loại hình du lịch khác đó chính là giáo dục, truyền tải giúp nâng cao nhận thức về bảo tồn thiên nhiên hoang dã, để đảm bảo rằng du khách sau khi kết thúc chuyến đi sẽ hiểu rõ hơn về thiên nhiên, hệ sinh thái cũng như con người và văn hóa nơi mà họ đã đến trải nghiệm để từ đó nâng cao nhận thức và ý thức bảo vệ môi trường thiên nhiên hơn.