Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Phát triển du lịch sinh thái đang trở thành xu hướng quan trọng trong chiến lược tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Tại Việt Nam giai đoạn 2015–2019, ngành du lịch ghi nhận mức tăng trưởng cao: lượng khách quốc tế tăng 2,3 lần (từ 7,9 triệu lượt năm 2015 lên 18 triệu lượt năm 2019, bình quân tăng 22,7%/năm), khách nội địa tăng gần 1,5 lần (từ 57 triệu lượt lên 85 triệu lượt, tăng bình quân 10,5%/năm), đóng góp trực tiếp vào GDP tăng từ 6,3% lên 9,2%. Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, năm 2019 tổng lượng khách ước đạt 4,81 triệu lượt (khách quốc tế chiếm 2.186.747 lượt, khách lưu trú đạt 2.247.885 lượt), tổng doanh thu du lịch đạt 4.945 tỷ đồng, mức chi tiêu bình quân ước tính đạt 1 triệu đồng/du khách.
Vườn quốc gia Bạch Mã được thành lập theo Quyết định số 214-CT ngày 15/7/1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nằm cách thành phố Huế 40 km, kết nối thuận lợi với các trung tâm du lịch như Lăng Cô và Cảng Chân Mây. Nơi đây sở hữu nguồn tài nguyên sinh học đa dạng, địa hình núi cao và giá trị lịch sử nghỉ dưỡng hình thành từ thời Pháp thuộc. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Bạch Mã trong thực tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng so với các khu nghỉ dưỡng cao trình tương tự tại Việt Nam. Để nâng cao hiệu quả quản lý và hoàn thiện sản phẩm du lịch, việc khảo sát thực trạng cung ứng dịch vụ và cơ sở hạ tầng từ góc nhìn trải nghiệm của du khách là yêu cầu cấp thiết.
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là phân tích thực trạng dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch sinh thái thông qua quan điểm của khách tham quan tại Vườn quốc gia Bạch Mã, từ đó đánh giá chất lượng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý du lịch kết hợp bảo tồn tài nguyên. Các mục tiêu cụ thể gồm:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến phát triển du lịch sinh thái tại các vườn quốc gia;
- Đánh giá thực trạng phát triển du lịch tại Vườn quốc gia Bạch Mã giai đoạn 2016–2020;
- Phân tích thực trạng dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch sinh thái thông qua quan điểm của khách tham quan tại Vườn quốc gia Bạch Mã;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Bạch Mã.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các khía cạnh liên quan đến hoạt động du lịch sinh thái và quan điểm đánh giá của khách tham quan, tập trung vào hệ thống dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch của khu bảo tồn. Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại Vườn quốc gia Bạch Mã (tỉnh Thừa Thiên Huế). Phạm vi thời gian đánh giá số liệu thứ cấp về thực trạng du lịch trải dài từ năm 2016 đến năm 2020; thời gian thu thập dữ liệu sơ cấp từ khách du lịch được tiến hành từ tháng 02/2021 đến tháng 04/2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên hệ thống các định nghĩa, quy định pháp lý và mô hình đánh giá học thuật:
- Khái niệm và vai trò của Vườn quốc gia: Sử dụng định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN) và Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về Quy chế quản lý rừng (thay thế Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg), xác định vườn quốc gia là một dạng rừng đặc dụng phục vụ bảo tồn hệ sinh thái, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái.
- Khái niệm và đặc điểm du lịch sinh thái: Trích dẫn định nghĩa của Hiệp hội Du lịch Sinh thái Quốc tế (TIES, 2005) và khái niệm được thông qua tại Hội thảo "Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam" (1999). Hoạt động du lịch sinh thái được xác định gồm 7 đặc trưng cơ bản: tính đa thành phần, tính đa ngành, tính đa mục tiêu, tính liên vùng, tính mùa vụ, tính chi phí và tính giáo dục môi trường; vận hành theo 4 nguyên tắc cốt lõi về giáo dục môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, giữ gìn bản sắc văn hóa và tạo lợi ích sinh kế cộng đồng.
- Mô hình tính hấp dẫn du lịch sinh thái: Ứng dụng cấu trúc phân cấp tính hấp dẫn du lịch sinh thái của Jinyang Deng và cộng sự (2002), kế thừa nghiên cứu của Gunn (1988) và Tsaur, Tzeng, Wang (1997), phân định 5 thành phần chính tạo nên sức hút điểm đến gồm: tài nguyên du lịch (thiên nhiên và văn hóa), cơ sở du lịch (hạ tầng, giải trí, giáo dục), khả năng tiếp cận (nội bộ và bên ngoài), cộng đồng địa phương và các điểm tham quan ngoại vi.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo nội bộ định kỳ của các phòng ban trực thuộc Vườn quốc gia Bạch Mã, số liệu của Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch Thừa Thiên Huế và các công bố khoa học liên quan (Andrew Balmford và cộng sự, 2015; Lê Thanh An và cộng sự, 2018).
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua bảng hỏi cấu trúc và bán cấu trúc. Cỡ mẫu khảo sát được tính theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên:
$$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$
Trong đó, tổng thể khách du lịch năm 2020 là $N = 16.170$, mức sai số cho phép $e = \pm 0,1$ (10%), kết quả tính toán cỡ mẫu lý thuyết đạt $n = 99,38$, tác giả làm tròn thành 100 phiếu điều tra. Do bối cảnh dịch bệnh COVID-19, phương thức điều tra được phối hợp qua 2 kênh: 66 phiếu điều tra trực tuyến và 34 phiếu điều tra trực tiếp du khách tại vườn từ tháng 02/2021 đến tháng 04/2021.
Phương pháp phân tích và xử lý số liệu được thực hiện trên phần mềm Microsoft Excel và SPSS 20.0:
- Thống kê mô tả: Tần số, tỷ lệ phần trăm và giá trị trung bình (Mean).
- Thang đo Likert 5 mức độ (1: Hoàn toàn không đồng ý/không hài lòng, 2: Hơi đồng ý/không hài lòng, 3: Đồng ý/bình thường, 4: Rất đồng ý/hài lòng, 5: Hoàn toàn đồng ý/hoàn toàn hài lòng). Phân khoảng giá trị theo tài liệu của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2005) với khoảng cách giá trị $(5 - 1) / 5 = 0,8$:
- 1,00 – 1,80: Hoàn toàn không hài lòng
- 1,81 – 2,60: Không hài lòng
- 2,61 – 3,40: Bình thường
- 3,41 – 4,20: Hài lòng
- 4,21 – 5,00: Hoàn toàn hài lòng
- Kiểm định so sánh: Kiểm định Independent Sample T-Test và Mann-Whitney U Test đối với hai nhóm mẫu độc lập (khảo sát trực tuyến và khảo sát trực tiếp) để kiểm tra sự khác biệt trong đánh giá ở mức ý nghĩa $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái tại các Vườn quốc gia
Nội dung chương tập trung hệ thống hóa bản chất của vườn quốc gia và hoạt động du lịch sinh thái. Tác giả phân tích kinh nghiệm phát triển du lịch tại các khu bảo tồn trên thế giới qua công trình của Andrew Balmford và cộng sự (2015), cho thấy các khu bảo tồn trên cạn toàn cầu tiếp nhận khoảng 8 tỷ lượt khách/năm, tạo ra doanh thu ước tính 750 tỷ USD/năm (theo thời giá năm 2014), trong đó có 600 tỷ USD trực tiếp từ hoạt động tham quan. Tại Việt Nam, hệ thống khu bảo tồn và vườn quốc gia năm 2018 đã đón 2,39 triệu lượt khách (doanh thu 155 tỷ đồng, nộp ngân sách 32 tỷ đồng); năm 2019 đón khoảng 2,5 triệu lượt khách (doanh thu đạt 185 tỷ đồng). Số liệu tổng hợp từ nghiên cứu của Lê Thanh An và cộng sự (2018) chỉ ra sự chênh lệch lớn về lượng du khách giữa các vườn quốc gia tại Việt Nam (như Phong Nha – Kẻ Bàng, Hoàng Liên so với các vườn như Kon Ka Kinh, Chư Mom Ray, Chư Yang Sin). Chương 1 khẳng định tính hấp dẫn của du lịch sinh thái phụ thuộc trực tiếp vào việc kết nối giữa nguồn tài nguyên tự nhiên với chất lượng dịch vụ và cơ sở hạ tầng phục vụ lưu trú, vận chuyển và thông tin.
Chương 2: Đánh giá thực trạng dịch vụ và cơ sở hạ tầng du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Bạch Mã
Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên, nhân lực, thực trạng khai thác hoạt động du lịch và phân tích kết quả điều tra du khách tại Vườn quốc gia Bạch Mã:
- Đặc điểm khu vực: Tổng diện tích vùng lõi của Vườn là 37.487 ha (trong đó 98,9% thuộc nhóm đất Feralit), vùng đệm rộng 58.676 ha trải dài trên địa bàn 3 huyện Phú Lộc, Nam Đông (tỉnh Thừa Thiên Huế) và huyện Đông Giang (tỉnh Quảng Nam). Về nhân sự, năm 2020 Vườn có 102 cán bộ công chức, viên chức; cơ cấu trình độ gồm 10 người trình độ sau đại học (9,80%), 78 người trình độ đại học (76,47%), 2 người trình độ cao đẳng (1,96%) và 12 người có trình độ trung cấp, sơ cấp (11,76%).
- Tài nguyên sinh thái: Thống kê ghi nhận 1.715 loài động vật thuộc 52 bộ, 258 họ, 1.080 giống (với 69 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam như Sao la, Voọc chà vá chân nâu, Mang lớn; 2 loài ong mới được đặt tên khoa học theo Bạch Mã gồm Spinaria bachmana và Vietorogas bachma); hệ thực vật và nấm gồm 2.421 loài (73 loài trong Sách Đỏ Việt Nam, 204 loài đặc hữu và 5 loài thực vật mới cho khoa học được đặt tên theo địa danh Bạch Mã). Khí hậu đỉnh Bạch Mã có lượng mưa bình quân đạt 9.865,1 mm/năm (mức cao nhất cả nước), nhiệt độ trung bình năm là 18,9°C.
- Hiện trạng hạ tầng và dịch vụ du lịch: Hệ thống giao thông gồm tuyến đường nối từ Quốc lộ 1A vào cổng Vườn (được UBND tỉnh phê duyệt năm 2016 với mức đầu tư 82,7 tỷ đồng) và tuyến đường 20 km bê tông lên đỉnh hoàn thành năm 2013. Các tuyến tham quan tự nhiên chính gồm: đường mòn Hải Vọng Đài (dài 800m lát đá granit từ Morin), đường mòn Đỗ Quyên (thác cao trên 300m với gần 700 bậc cấp đá), đường mòn Ngũ Hồ, Rừng Chò Đen và Trĩ Sao. Dịch vụ lưu trú và ăn uống còn nghèo nàn; đa số biệt thự cổ đã xuống cấp hoặc đóng cửa, hiện chỉ duy trì một căng tin dưới chân núi và nhà hàng Đỗ Quyên tại khu vực đỉnh; phương tiện vận chuyển nội bộ gồm 3 xe du lịch 16 chỗ.
| Năm |
Khách nội địa (lượt) |
Khách quốc tế (lượt) |
Tổng lượt khách (lượt) |
Tổng doanh thu vé (triệu đồng) |
| 2016 |
13.372 |
4.820 |
18.192 |
538 |
| 2017 |
12.433 |
6.219 |
18.652 |
868 |
| 2018 |
15.247 |
9.753 |
25.000 |
1.156 |
| 2019 |
21.767 |
11.933 |
33.700 |
1.594 |
| 2020 |
13.030 |
3.140 |
16.170 |
878 |
Giai đoạn 2016–2019, lượng khách tăng trưởng bình quân 22,8%/năm, đạt đỉnh 33.700 lượt năm 2019. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, tổng lượt khách giảm xuống còn 16.170 lượt, doanh thu bán vé giảm 44,92% so với năm 2019 (từ 1.594 triệu đồng xuống còn 878 triệu đồng).
Kết quả khảo sát mẫu 100 khách du lịch ghi nhận các đặc trưng cơ bản: 51% nam, 48% nữ; độ tuổi từ 20–30 tuổi chiếm 51%, từ 30–45 tuổi chiếm 45%; trình độ cử nhân/kỹ sư chiếm 51%, trung cấp/cao đẳng chiếm 41%; nghề nghiệp chính là nhân viên văn phòng (30%), sinh viên (28%) và khối doanh nghiệp tư nhân (19%); mức thu nhập phổ biến nhất từ 6–8 triệu đồng/tháng (26%) và 4–6 triệu đồng/tháng (22%). Mục đích đến Bạch Mã chủ yếu là tiêu khiển thời gian với gia đình/bạn bè (32%), nghỉ ngơi nơi khí hậu trong lành (21%) và thoát khỏi cuộc sống thành phố (18%).
| Nhóm tiêu chí đánh giá |
Điểm trung bình (Mean) |
Mức độ hài lòng |
Tiêu chí có điểm cao nhất |
Tiêu chí có điểm thấp nhất |
| Dịch vụ du lịch |
2,61 – 3,40 |
Bình thường |
Hoạt động giải trí ngoài trời đa dạng (3,26) |
Chất lượng phương tiện vận chuyển / lưu trú & ăn uống |
| Cơ sở hạ tầng |
2,61 – 3,40 |
Bình thường |
Tuyến đường mòn tham quan thiên nhiên (3,38) |
Hạ tầng internet / liên lạc / thông tin (2,67) |
Kết quả kiểm định Mann-Whitney U Test và T-Test đối với hầu hết các chỉ tiêu đều cho giá trị $p > 0,1$, xác nhận không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm phỏng vấn trực tiếp tại Vườn ($n=34$) và nhóm khảo sát trực tuyến ($n=66$). Đánh giá chung của du khách về cả dịch vụ lẫn cơ sở hạ tầng đều rơi vào khoảng 2,61 – 3,40 (mức Bình thường). Trong đó, tuyến đường mòn thiên nhiên được đánh giá cao nhất nhờ tính nguyên sơ, trong khi hệ thống thông tin liên lạc/internet (2,67), bãi gửi đỗ xe và hệ thống điện nước, xử lý chất thải nhận điểm đánh giá thấp, phản ánh những bất cập về hạ tầng vật chất kỹ thuật.
Chương 3: Một số giải pháp về du lịch sinh thái tại Vườn quốc gia Bạch Mã
Dựa trên kết quả định lượng, tác giả đề xuất định hướng và 3 nhóm giải pháp cụ thể:
- Đa dạng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch: Phát triển các dịch vụ trải nghiệm gắn liền với tự nhiên như ngắm chim, nghiên cứu động thực vật có hướng dẫn, tổ chức tour ban đêm có kiểm soát; chuẩn hóa nghiệp vụ cho đội ngũ nhân viên phục vụ và hướng dẫn viên du lịch sinh thái; cung cấp đồng bộ trang thiết bị phục vụ cắm trại, dã ngoại dã sinh an toàn.
- Đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và vật chất kỹ thuật: Cải tạo, nâng cấp mạng lưới thông tin liên lạc và đường truyền internet tại các trạm đón tiếp và điểm dừng chân; sửa chữa hệ thống cấp điện, cấp nước sinh hoạt và công trình thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt; quy hoạch mở rộng bãi đỗ xe tại chân núi và trạm kiểm soát; từng bước trùng tu có quy hoạch hệ thống biệt thự cổ làm điểm lưu trú đặc thù nhưng phải đảm bảo bảo vệ cảnh quan rừng.
- Đẩy mạnh quảng bá và giáo dục môi trường: Đa dạng hóa các kênh truyền thông trên môi trường số (website, mạng xã hội); liên kết với các doanh nghiệp lữ hành tại Thừa Thiên Huế và Đà Nẵng để thiết lập tuyến tour liên vùng; tăng cường các hoạt động giáo dục môi trường, mở rộng câu lạc bộ kiểm lâm nhí và các chương trình trải nghiệm thiên nhiên cho học sinh, sinh viên tại các xã vùng đệm.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể thông qua hệ thống dữ liệu thực nghiệm:
- Lập bảng tổng hợp chi tiết bức tranh phát triển du lịch của Vườn quốc gia Bạch Mã qua chuỗi thời gian 2016–2020: lượng khách tăng từ 18.192 lượt (năm 2016) lên đỉnh 33.700 lượt (năm 2019) trước khi suy giảm về 16.170 lượt (năm 2020); nguồn thu từ vé dao động tương ứng từ 538 triệu đồng (2016) lên 1.594 triệu đồng (2019) và còn 878 triệu đồng (2020).
- Đo lường định lượng thái độ của du khách qua thang đo 5 mức độ Likert đối với 17 tiêu chí dịch vụ và hạ tầng: chỉ ra toàn bộ giá trị trung bình chỉ đạt mức "Bình thường" (nằm trong biên độ 2,61 – 3,40). Điểm sáng lớn nhất là "Tuyến đường mòn tham quan thiên nhiên" (Mean = 3,38) và "Hoạt động giải trí ngoài trời" (Mean = 3,26); điểm hạn chế lớn nhất là "Cơ sở hạ tầng internet/liên lạc/thông tin" (Mean = 2,67).
- Đóng góp khoa học và thực tiễn: Khóa luận cung cấp cơ sở dữ liệu sơ cấp thực chứng trong bối cảnh du lịch chịu tác động của đại dịch COVID-19 năm 2021. Khác với các nghiên cứu mô tả định tính trước đây về tài nguyên thiên nhiên Bạch Mã, công trình này lượng hóa trực tiếp mức độ hài lòng của từng nhóm khách, xác lập bằng chứng thực nghiệm về khoảng cách giữa tiềm năng tài nguyên sinh thái phong phú và thực trạng cung cấp dịch vụ hạ tầng còn hạn chế tại Vườn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ ra một số hạn chế do điều kiện thực hiện:
- Quy mô mẫu điều tra dừng lại ở $n = 100$ do bối cảnh dịch bệnh COVID-19 bùng phát đầu năm 2021, làm giảm lượng khách tham quan thực tế và buộc phải kết hợp cả phương thức điều tra trực tuyến (66 phiếu) cùng phỏng vấn trực tiếp (34 phiếu).
- Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào quan điểm của du khách về dịch vụ và cơ sở hạ tầng, chưa mở rộng thu thập ý kiến chuyên sâu từ cộng đồng địa phương ở 15 xã vùng đệm cũng như các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý lâm nghiệp.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ phạm vi đề tài:
- Mở rộng quy mô mẫu khảo sát khi hoạt động du lịch trở lại trạng thái bình thường nhằm nâng cao tính đại diện;
- Nghiên cứu đánh giá sức chứa du lịch (carrying capacity) và tác động của lượng du khách đối với công tác bảo tồn đa dạng sinh học rừng Bạch Mã;
- Phân tích chuỗi giá trị và cơ chế chia sẻ lợi ích kinh tế từ du lịch sinh thái đối với sinh kế của cộng đồng dân cư sinh sống tại vùng đệm.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên các chuyên ngành Kế hoạch Đầu tư, Kinh tế Phát triển, Quản trị Dịch vụ Du lịch và Lữ hành, Quản lý Tài nguyên Thiên nhiên có thể tham khảo phương pháp kết hợp điều tra trực tiếp và trực tuyến, quy trình xử lý dữ liệu khảo sát bằng phần mềm SPSS 20.0 (thống kê mô tả, kiểm định T-Test và Mann-Whitney U Test theo thang đo Likert).
- Ban quản lý Vườn quốc gia Bạch Mã và Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế trong việc rà soát thực trạng hạ tầng, từ đó xây dựng kế hoạch phân bổ vốn đầu tư cho các hạng mục thiết yếu như viễn thông, bãi đỗ xe và nâng cấp dịch vụ đón tiếp, dã ngoại.
Câu hỏi thường gặp
1. Kích thước mẫu khảo sát du khách trong khóa luận được tính toán dựa trên cơ sở nào?
Tác giả áp dụng công thức tính cỡ mẫu ngẫu nhiên dựa trên quy mô tổng thể lượng khách năm 2020 ($N = 16.170$ lượt khách) với sai số cho phép $e = \pm 0,1$ (10%). Công thức cho kết quả $n = 99,38$ phiếu, tác giả làm tròn và thu thập đủ 100 phiếu (gồm 66 phiếu khảo sát trực tuyến và 34 phiếu khảo sát trực tiếp tại Vườn trong giai đoạn từ tháng 02 đến tháng 04 năm 2021).
2. Biến động lượng khách và doanh thu tại Vườn quốc gia Bạch Mã giai đoạn 2016–2020 diễn ra như thế nào?
Lượng khách tăng liên tục từ 18.192 lượt (năm 2016) lên mức đỉnh 33.700 lượt (năm 2019) với tốc độ tăng bình quân 22,8%/năm, doanh thu từ vé tương ứng tăng từ 538 triệu đồng lên 1.594 triệu đồng. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, lượng khách giảm xuống 16.170 lượt và doanh thu vé giảm còn 878 triệu đồng (giảm 44,92% so với năm 2019).
3. Khách tham quan đánh giá cao nhất và thấp nhất những tiêu chí nào về dịch vụ và hạ tầng?
Trong hệ thống dịch vụ, tiêu chí "Các hoạt động giải trí ngoài trời đa dạng" đạt điểm trung bình cao nhất (3,26). Đối với cơ sở hạ tầng, tiêu chí "Các tuyến đường mòn tham quan thiên nhiên" đạt điểm trung bình cao nhất (3,38). Ngược lại, tiêu chí "Cơ sở hạ tầng internet/liên lạc/thông tin" nhận mức đánh giá thấp nhất (2,67). Tất cả các tiêu chí đều nằm trong ngưỡng đánh giá từ 2,61 đến 3,40 (mức Bình thường theo thang đo Likert).
4. Cơ cấu trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân lực tại Vườn quốc gia Bạch Mã tại thời điểm nghiên cứu ra sao?
Năm 2020, Vườn quốc gia Bạch Mã có tổng cộng 102 cán bộ công chức, viên chức. Trong đó, trình độ sau đại học có 10 người (chiếm 9,80%), trình độ đại học có 78 người (chiếm 76,47%), trình độ cao đẳng có 02 người (chiếm 1,96%) và trình độ trung cấp, sơ cấp có 12 người (chiếm 11,76%).
5. Vườn quốc gia Bạch Mã ghi nhận những loài sinh vật đặc hữu và mới nào mang tên địa danh này?
Vườn đã phát hiện và ghi nhận 2 loài ong mới cho khoa học mang tên Bạch Mã gồm Spinaria bachmana và Vietorogas bachma. Hệ thực vật có 5 loài mới cho khoa học được đặt tên theo Bạch Mã gồm Chìa vôi bạch mã (Cissus bachmaensis), Côm bạch mã (Elaeocarpus bachmaensis), Lá nón bạch mã (Licuala bachmaensis), Mây bạch mã (Calamus bachmaensis) và Bọt ếch bạch mã (Glochidion bachmaensis).
Kết luận
Khóa luận của tác giả Phạm Thị Kim Phụng đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về du lịch sinh thái và đánh giá toàn diện bức tranh phát triển tại Vườn quốc gia Bạch Mã giai đoạn 2016–2020. Dữ liệu thực nghiệm qua khảo sát 100 du khách năm 2021 xác nhận chất lượng dịch vụ và hạ tầng kỹ thuật tại đây chỉ đạt mức trung bình, trong đó mạng lưới thông tin liên lạc và cơ sở lưu trú bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Các giải pháp đề xuất từ nghiên cứu cung cấp căn cứ thực tiễn để Ban quản lý Vườn và các cơ quan hữu quan đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, hướng tới khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên gắn với mục tiêu phát triển bền vững.