CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.Lý luận cơ bản về dịch vụ và chất lượng dịch vụ 1. Bản chất của dịch vụ a. Khái niệm Trong từ điển Oxford, công nghệ dịch vụ được định nghĩa là “cung cấp dịch vụ, không phải hàng hóa”, hay “cung cấp thứ gì đó vô hình dạng”. Theo James Fitzsimmons, dịch vụ là một trải nghiệm vô hình, có tính mau hỏng theo thời gian được đem đến cho khách hàng (đóng vai trò là người cùng làm ra dịch vụ).
Tóm lại, dịch vụ là những hoạt động tạo ra các sản phẩm không tồn tại dưới dạng hình thái vật thể nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người. Các yếu tố cấu thành của hệ thống dịch vụ Đầu vào Quá trình Đầu ra biến đổi Hình 1.1: Các yếu tố cấu thành hệ thống dịch vụ b. Các đặc điểm của dịch vụ b. Sự tham gia của khách hàng vào quá trình dịch vụ Sự có mặt của khách hàng như một người tham gia trong quá trinhg dịch vụ yêu cầu phải chú ý đến thiết kế địa điểm, phương tiện; Khách hàng có thể trở thành một phần năng động của trong tiến trình dịch vụ; Khách hàng có thể được sắp xếp, khuyến khích sử dụng dịch vụ ngoài công ty.
Tính vô hình dạng hay phi vật chất Đối với dịch vụ, khách hàng không thể nhìn thấy, thử mùi vị, nghe hay ngửi chúng trước khi tiêu dùng chúng. Khách hàng phải lệ thuộc vào danh tiếng của doanh nghiệp. SVTH : Hồ Linh Phương 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : TS. Trần Thị Mai b.
Tính sản xuất và tiêu thụ đồng thời của dịch vụ Sản phẩm được làm ra và tiêu thụ cùng lúc. Tính sản xuất và tiêu thụ đồng thời trong dịch vụ loại bỏ nhiều cơ hội trong nước kiểm soát chất lượng; b. Tính mau hỏng hay tính không cất giữ được Dịch vụ không thể tồn kho, nó bị mất đi khi không được sử dụng.Việc sử dụng đầy đủ công suất dịch vụ trở thành một thách thức trong quản lý. Tính không đồng nhất hay tính dị chủng của dịch vụ Sản phẩm dịch vụ được phi tiêu chuẩn hóa, sự cung ứng dịch vụ phụ thuộc vào kỹ thuật và khả năng của từng người thực hiện dịch vụ.
Sự khác nhau giữa hoạt động sản xuất và hoạt động dịch vụ Theo giáo trình quản trị tác nghiệp, nhà xuất bản đại học kinh tế quốc dân của TS. Trương Đức Lực – THS. Nguyễn Đình Trung (đồng chủ biên). Những điểm khác nhau giữa quản trị sản xuất và quá trình cung cấp dịch vụ bao gồm: - Đặc điểm đầu vào và đầu ra; - Mối quan hệ của doanh nghiệp và khách hàng; - Sự tham gia của khách hàng trong quá trình biến đổi; - Thời gian từ khi sản xuất hoặc cung cấp dịch vụ đến khi tiêu dùng; - Khả năng đo lường, đánh giá năng suất, chất lượng.
Đặc tính của đầu vào và đầu ra Đầu vào Đầu ra Dịch vụ: bao gồm cả khách hàng Dịch vụ: vô hình Sản xuất: không bao gồm khách hàng Sản xuất: hữu hình c. Mối quan hệ tiếp xúc khách hàng Dịch vụ: tương tác trực tiếp với khách hàng Sản xuất: phân phối sản phẩm qua trung gian phân phối. Giao dịch trực tiếp với khách hàng mang lại lợi thế trong việc xây dựng mối quan hệ c. Thời điểm tiêu dùng sản phẩm Chuỗi cung cấp hàng hóa SVTH : Hồ Linh Phương 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : TS.
Trần Thị Mai Chuỗi cung cấp dịch vụ Hình 1.2: Sự khác nhau trong thời điểm tiêu dùng sản phẩm của sản xuất và dịch vụ c. Khả năng đo lường đánh giá năng suất và chất lượng của quá trình sản xuất và dịch vụ Sản xuất: Thiết kế những tiêu chuẩn cụ thể, đo lường chính xác Dịch vụ: Rất khó có một tiêu chuẩn nhất định do những đặc điểm vô hình, tính dị chủng của dịch vụ. Vai trò của dịch vụ a. Vị trí của dịch vụ Dịch vụ là một hợp phần của nền kinh tế quốc dân và đang ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong cả 2 chỉ tiêu chung của nền kinh tế là số lượng lao động và tỷ trọng trong tổng thu nhập quốc dân.
Ngành dịch vụ hiện đóng góp 60% GDP của thế giới (Lovelock và Wirtz, 2007). Ở các nước OECD, tỷ trọng này lên đến 70% (OECD, 2000:3) b. Vai trò của dịch vụ trong đời sống xã hội và hoạt động kinh tế của con người - Dịch vụ là cầu nối giữa “đầu vào” và “đầu ra” trong quá trình sản xuất, thúc đẩy nền kinh tế phát triển năng động, hiệu quả. - Dịch vụ phát triển thúc đẩy phân công lao động xã hội, đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.
- Dịch vụ tạo ra nhiều việc làm, thu hút một lượng lớn lực lượng lao động xã hội, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. - Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu. - Phát triển dịch vụ trong lĩnh vực thương mại có vai trò kích cầu, phục vụ khách hàng tốt hơn. SVTH : Hồ Linh Phương 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : TS.
Trần Thị Mai c. Sự phụ thuộc của sản xuất và dịch vụ Hầu hết các ngành sản xuất muốn thành công đều phải sử dụng đến lĩnh vực dịch vụ. Nhiều nhà sản xuất còn khai thác các dịch vụ tăng thêm giá trị lợi nhuận. Chất lượng dịch vụ 1.
Định nghĩa chất lượng dịch vụ Từ ngữ “chất lượng” có nhiều nghĩa và có thể sử dụng nhiều cách. Garvin (1984) xác định năm phương cách để hiểu ý niệm về chất lượng. - Phương cách siêu việt: Chất lượng trong trường hợp này là sự ưu việt nội tại. Nó phản ánh điều gì đó “tốt nhất”.
- Phương cách dựa trên sản xuất liên quan đến sự phù hợp với quy cách hay thiết kế. Một dịch vụ chất lượng sẽ không bị sai sót nào so với quy cách. - Phương pháp dựa trên người sử dụng: chấp nhận rằng một dịch vụ hay một sản phẩm nào đó đáp ứng những đòi hỏi của người sử dụng thì đó là một dịch vụ chất lượng. - Phương cách dựa trên sản phẩm là một phương cách dựa trên số lượng và chỉ xét đến những đặc tính đo lường được.
Trong đa số các trường hợp, nhiều hơn đồng nghĩa với tốt hơn và như vậy có chất lượng cao hơn.Trong một số trường hợp, ít hơn đôi khi được xem là chất lượng hơn. - Phương cách dựa trên giá trị: phương cách này đưa chi phí hay giá cả vào việc đánh giá. - Vậy thì phương cách nào là thích hợp nhất để một nhà điều hành dịch vụ sử dụng? Theo quan điểm hiện đại hiện nay thì chất lượng dịch vụ là sự thỏa mãn của khách hàng khi cung cấp dịch vụ đáp ứng như cầu của khách hàng. Sự thỏa mãn của khách hàng đối với dịch vụ được xác định thông qua so sánh giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ được cung cấp (dịch vụ cảm nhận bởi khách hàng).
Các thành phần chất lượng dịch vụ Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới cho biết, mỗi ngành dịch vụ cụ thể có đặc tính riêng của chúng, tùy theo từng loại hình dịch vụ khác nhau mà mỗi loại hình có mức độ quan trọng khác nhau trong từng thành phần nhưng nhìn chung đều dựa trên SVTH : Hồ Linh Phương 9 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : TS. Trần Thị Mai thang đo SERQUAL của Parasuraman & ctg (1991) có 5 phần như sau: Sự tin cậy (reliability), Sẵn sàng đáp ứng (Responsiveness), Sự đảm bảo (Assurance), Sự đồng cảm (Empathy), Tính hữu hình (Tangibles). Sự tin cậy (Reliability) Sự tin cậy chính là khả năng cung cấp dịch vụ như đã cam kết một cách tin cậy và chính xác. Đảm bảo dịch vụ tin cậy là một trong những mong đợi của khách hàng.
Đối với khách hàng cam kết của dịch vụ gồm ba phần rõ rệt: các cam kết của tổ chức, những kỳ vọng thông thường, và các lời hứa cá nhân. - Cam kết của tổ chức: Thông qua quảng cáo và marketing trong thư tín được công bố rộng rãi của các công ty; Chuẩn mực trong kinh doanh. - Những kỳ vọng chung: Khách hàng luôn đặt ra những kỳ vọng khác bên cạnh các kỳ vọng thông thường trong mỗi thương vụ. - Những cam kết cá nhân: những cam kết bạn sẽ thực hiện khi nhà cung ứng dịch vụ nói cho khách hàng.
Quản lý các cam kết: là “uốn” sự trông đợi của khách hàng cho phù hợp với những gì công ty sẽ làm và có thể làm vì họ. Sửa đổi các cam kết khi chúng không được thực hiện. Sẵn sàng đáp ứng (Responsiveness) Sẵn sàng đáp ứng là sự sẵn sàng giúp đỡ khách hàng một cách tích cực và cung cấp dịch vụ một cách hăng hái. Sự đảm bảo Là việc thực hiên dịch vụ một cách lịch sự và kính trọng khách hàng phục vụ có hiệu quả, thực sự quan tâm và giữ bí mật cho họ.
Phát sinh “huấn luyện cách mỉm cười” nhằm tạo ra phong cách phục vụ. Năng lực và chuyên môn là một việc không thể xem nhẹ. Chính sự kết hợp giữa phong cách và năng lực tạo nên sự tin cậy cho khách hàng. SVTH : Hồ Linh Phương 10 Khóa luận tốt nghiệp GVHD : TS.
Trần Thị Mai Năng lực phục vụ bao gồm 4 kỹ năng cơ bản: - Hiểu biết về sản phẩm; - Hiểu biết về công ty; - Kỹ năng lắng nghe; - Kỹ năng giải quyết vấn đề.Sự đồng cảm (Empathy) Thể hiện việc chăm sóc chu đáo, chú ý đến cá nhân khách hàng. Sự đồng cảm bao gồm khả năng tiếp cận và nỗ lực tìm hiểu nhu cầu của khách hàng. Khách hàng khác nhau có những mong muốn, nhu cầu, kỳ vọng, thái độ và cảm xúc đa dạng khác nhau “Khách hàng không quan tâm đến việc bạn biết những gì, chừng nào họ biết chắc bạn luôn quan tâm chăm sóc họ” – Digital Equipment Corp, Bộ phận Dịch Vụ Khách hàng.Phương tiện vật chất hữu hình (Tangibles) Là sự hiện diện của điều kiện làm việc, trang thiết bị, con người và các phương tiện thông tin. Nguyên tắc là: Không bao giờ đưa khách hàng những thứ chính bạn cũng cảm thấy miễn cưỡng, ngượng ngùng, hay tức giận nếu bản thân bạn phải nhận chúng.
Các khoảng cách trong chất lượng dịch vụ Parasuraman & ctg (1985) là những người tiên phong trong nghiên cứu chất lượng dịch vụ. Thành công của nghiên cứu đã tạo phương tiện đột phá giúp các nàh kinh doanh có được kết quả chất lượng dịch vụ của họ thông qua việc nghiên cứu đánh giá của khách hàng – người sử dụng dịch vụ.