Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan về cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận Kết luận và kiến nghị 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm dịch vụ sinh thái (DVST) Khái niệm DVST có một lịch sử phát triển lâu dài bắt đầu định nghĩa của Daily 1997 (Lawton, 1998). Khái niệm này sau đó đƣợc phổ biến qua Báo cáo Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ (Millenium Ecosystem Assessement - MA) vào năm 2005. Báo cáo MA là nỗ lực đầu tiên trong việc đánh giá tình trạng của hệ sinh thái trên toàn thế giới và những tác động của nó lên an sinh của con ngƣời (MEA, 2003; Kumar 2012; UNEP-WCMC, 2011).
Báo cáo MA cho thấy hầu hết các hệ sinh thái trên thế giới các dịch vụ chúng tạo ra đang suy giảm, đồng thời chỉ ra rằng sự suy thoái của hệ sinh thái và suy giảm đa dạng sinh học đã và đang gây ra tác động tiêu cực lên sức khỏe con ngƣời, tạo ra nguy cơ cao hơn của mất an ninh lƣơng thực, gia tăng mức độ tổn thƣơng, suy giảm sự thịnh vƣợng về vật chất, làm xấu đi các mối quan hệ xã hội và ảnh hƣởng tiêu cực đến quyền tự do lựa chọn và hành động (UNEP-WCMC, 2011). DVST đƣợc định nghĩa bởi Daily (1997) là “các điều kiện và quá trình mà qua đó các hệ sinh thái tự nhiên và các sinh vật tạo ra chúng, duy trì và đáp ứng cho đời sống của con ngƣời”. Theo Báo cáo Đánh giá Hệ sinh thái Thiên niên kỷ (MA, 2005), DVST là “những lợi ích mà con ngƣời nhận đƣợc trực tiếp và gián tiếp từ các chức năng sinh thái”. Sự khác biệt cơ bản giữa hai cách định nghĩa này là ở chỗ trong khi định nghĩa của Daily đƣa các đặc trƣng và vận động của hệ sinh thái lên đầu thì trong khái niệm sau, lợi ích của con ngƣời nhận đƣợc từ hệ sinh thái đƣợc đƣa lên đầu.
Việc đƣa ra các cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa DVST có ảnh hƣởng quyết định đến các nghiên cứu sau này nhắm đến việc tính toán giá trị các dịch vụ này.2 trình bày khung khái niệm của MA và mô tả mối liên hệ giữa bốn hợp phần của hệ sinh thái và con ngƣời. Sự an sinh của con ngƣời phụ thuộc một phần vào sự hiện hữu của các dịch vụ sinh thái. Ẩn đằng sau các dịch vụ này là các quá trình sinh thái có tính hỗ trợ nhƣ chu trình dinh dƣỡng, thủy văn và khí hậu. DVST có thể bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố 4 trực tiếp nhƣ ô nhiễm và biến đổi sử dụng đất cũng nhƣ các yếu tố gián tiếp nhƣ dân số và chính sách kinh tế.
Xét đến cùng thì những biến đổi này đều có nguồn gốc từ con ngƣời. Mối liên kết giữa an sinh con ngƣời và DVST có tính phức tạp nên mặc dù một số liên kết đã đƣợc tìm hiểu, nhiều mối liên kết khác vẫn còn chƣa đƣợc hiểu rõ (UNEP-WCMC, 2011).1: Khung khái niệm của MA (MEA 2003) 5 Hình 1.2: Mối liên hệ giữa đa dạng sinh học, dịch vụ sinh thái và con ngƣời (MEA 2003) Khung khái niệm về DVST của Kinh tế học của Hệ sinh thái và Đa dạng sinh học (The Economics of Ecosystems and Biodiversity - TEEB) ra đời sau và kế thừa khung khái niệm của MA. Điểm khác biệt lớn nhất trong hệ thống của TEEB so với MA là trong hệ thống của TEEB không có chức năng hỗ trợ mà thay vào đó là chức năng môi trƣờng sống (habitat) (TEEB 2012; UNEP- WCMC, 2011).1 liệt kê các nhóm DVST và loại DVST cụ thể của hệ thống TEEB.1: Bảng liệt kê các nhóm DVST theo TEEB (2012) Nhóm DVST Loại DVST Thực phẩm Nƣớc Dịch vụ cung Nguyên liệu thô cấp Tài nguyên gen Tài nguyên dƣợc liệu Vật liệu trang trí Điều tiết chất lƣợng không khí Điều tiết khí hậu (bao gồm thu giữ cacbon) Điều tiết các hiện tƣợng cực đoan Điều tiết dòng chảy Dịch vụ điều tiết Xử lý chất thải Ngăn xói lở Bảo trì độ phì của đất Thụ phấn Kiểm soát sinh học Dịch vụ môi Duy trì vòng đời (ví dụ: các loại di trú, các môi trƣờng sống) trƣờng sống Duy trì đa dạng nguồn gen Thƣởng thức vẻ mỹ quan Giải trí và du lịch Dịch vụ văn hóa Tạo cảm hứng về văn hóa, nghệ thuật và thiết kế Trải nghiệm tâm linh Phát triển nhận thức 7 1. Tầm quan trọng của lập bản đồ dịch vụ sinh thái Lập bản đồ DVST là nhiệm vụ thiết yếu để hiểu rõ cách mà các hệ sinh thái đóng góp cho các vấn đề an sinh của con ngƣời (Burkard và Maes 2017).
Các bản đồ DVST có ý nghĩa quan trọng trong việc đem khái niệm DVST vào trong các ứng dụng thực tế. Các ứng dụng của thông tin không gian có thể kể ra nhƣ quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên, tối ƣu hóa sử dụng đất, bảo vệ môi trƣờng, bảo tồn và phục hồi thiên nhiên, quy hoạch cảnh quan và các giải pháp dựa vào thiên nhiên, giảm rủi ro thiên tai cũng nhƣ trong giáo dục và các nghiên cứu về môi trƣờng (Burkard và Maes 2017). Bản đồ có khả năng truyền tải hiệu quả các thông tin không gian phức tạp và ngƣời xem thƣờng thích khai thác thông tin từ bản đồ và các ứng dụng thực tế của chúng hơn là các dạng thông tin khác. Do đó, bản đồ DVST rất hữu ích trong nâng cao nhận thức của con ngƣời về các loại hàng hóa, dịch vụ hệ sinh thái cung cấp và nhu cầu về các loại dịch vụ này.
Đồng thời các bản đồ này còn là phƣơng tiện giáo dục cho ngƣời xem về sự phụ thuộc của con ngƣời vào các chức năng của hệ sinh thái cũng nhƣ cung cấp thông tin về dòng chảy của các loại hàng hóa và DVST trên quy mô liên vùng. Cuối cùng, bản đồ là tƣ liệu bắt buộc trong quy hoạch cảnh quan, quản lý tài nguyên thiên nhiên và tối ƣu hóa sử dụng đất (Burkard và Maes 2017). Ở Việt Nam, sự quan tâm đến phân bố giá trị DVST theo không gian có gia tăng trong những năm gần đây, thể hiện qua những nghiên cứu của Lộc và c., 2017 hay Kuenzer và Tuan 2013, Vo và c. Thế nhƣng các nghiên cứu này thƣờng chỉ tập trung vào một loại hệ sinh thái cụ thể nhƣ rừng ngập mặn (Vo và c., 2015) và đất canh tác nông nghiệp (Loc và c., 2017), ít có nghiên cứu thể hiện giá trị DVST trên quy mô cảnh quan.
Khu vực ven biển tỉnh Bến Tre đang diễn ra thay đổi mạnh mẽ dƣới tác động của biến đổi khí hậu, chính sách thủy lợi và thị trƣờng (Renaud và c. Biến đổi khí hậu làm xâm nhập mặn đang trở nên trầm trọng. Theo Hà 2014, xâm nhập mặn vào năm 2050 có khả năng ảnh hƣởng đến hơn một triệu ngƣời ở vùng ven biển tỉnh Bến Tre. Xâm nhập mặn còn có xu hƣớng trầm trọng 8 hơn và đi sâu trong đất liền do ảnh hƣởng của nƣớc biển dâng (UBND, 2011; Renaud và c.
Để ứng phó với xâm nhập mặn, hệ thống đê và cống ngăn mặn đã đƣợc triển khai xây dựng, điển hình là cống Ba Lai trên sông Ba Lai trong dự án thủy lợi Bắc Bến Tre đƣợc thi công và khánh thành vào năm 2002 (Hoang và c. Việc hiện diện của cống ngăn mặn đã tạo ra nhiều biến động đáng kể trong lĩnh vực nông nghiệp ở hai khu vực cù lao An Hóa và cù lao Bảo. Cụ thể, để phù hợp với chủ trƣơng ngọt hóa, các loại hình cây trồng, vật nuôi phù hợp với nƣớc ngọt đƣợc khuyến khích. Tuy nhiên, việc can thiệp bằng giải pháp công trình tạo ra nhiều đảo lộn về điều kiện tự nhiên cũng nhƣ xã hội.
Điển hình là việc suy giảm chất lƣợng nguồn nƣớc khu vực bên trong cống (Hoang và c., 2015), mâu thuẫn sử dụng đất giữa các đối tƣợng cây trồng, vật nuôi nƣớc mặn và nƣớc ngọt (SWIRP, 2019; Renaud và c. Thị trƣờng là động lực mạnh mẽ chi phối các yếu tố kinh tế - xã hội và môi trƣờng ở khu vực nghiên cứu. Sự bùng phát của hoạt động nuôi tôm sau đó từ những năm 1990 ở khu vực ven biển sau chính sách đa dạng hóa trong nông nghiệp và do lợi nhuận hấp dẫn từ con tôm đã làm biến đổi đáng kể khu vực ven biển (Renaud và c. Việc mở rộng của hoạt động nuôi tôm đƣợc coi là nguyên nhân chính của mất rừng ngập mặn.
Hậu quả của mất rừng ngập mặn có thể kể đến nhƣ sạt lở bờ (Phan và c., 2015) và suy giảm đa dạng sinh học (Do và Bennvàt, 2009). Thâm canh trong nông nghiệp là chuyển biến đáng chú ý bên cạnh sự suy giảm rừng ngập mặn. Thị trƣờng mà chủ yếu là lợi nhuận đóng vai trò quan trọng trong xu hƣớng này. Đã có nhiều nghiên cứu cho thấy nông nghiệp thâm canh đang làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên (Anh và c., 2010; Nguyen và Fisher, 2014; Páez-Osuna, 1998; Berg và c.
Việc thâm canh trong nông nghiệp nhắm tới lợi nhuận cũng đồng thời trực tiếp làm giảm giá trị của cảnh quan. Theo Bommarco và c. (2013), cảnh quan nông nghiệp còn cung cấp những giá trị khác ngoài giá trị sản xuất, có thể kể đến nhƣ chức năng điều tiết khí hậu, điều tiết nƣớc và bảo tồn đa dạng sinh học. 9 Thâm canh trong nuôi trồng thủy sản có thể gây ra những biến đổi đáng kể đến môi trƣờng.
Theo ƣớc tính 75% lƣợng nƣớc thải trong nuôi trồng thủy sản đƣợc thải ra các thủy vực lân cận (World Bank 2017). Trầm tích ao sau khi nạo vét là nguyên nhân gây ô nhiễm khác từ hoạt động nuôi trồng thủy sản.2 thống kê tài lƣợng ô nhiễm từ sản xuất tôm tính trên đơn vị một tấn tôm.2: Tải lƣợng ô nhiễm từ sản xuất tôm (World Bank 2017) Chỉ số Tải lƣợng ô nhiễm (kg/ tấn) Tổng N 30 (*) Tổng P 3,7 (*) BOD 259 (*) COD 769 (*) TSS 1170 (*) N-NH3 4,8 (*) Tổng N từ trầm tích 8,4 +- 3,3 (**) Tổng P từ trầm tích 5,9 +- 2,5 (**) (Nguồn (*) Anh và c., 2010, (**) Mạnh và Nga 2011) Phát thải khí nhà kính từ nông nghiệp là một thách thức khác trong khu vực. Bên cạnh khí nhà kính từ hoạt động nông nghiệp nhƣ trồng lúa, nuôi tôm, còn có một lƣợng lớn khí nhà kính phát sinh từ hoạt động chuyển đổi sử dụng đất (Järviö và c. Theo nhóm tác giả, việc chuyển đổi từ rừng ngập mặn sang các mô hình nuôi tôm gây ra thất thoát C trong đất tới độ sâu 1,5m và các nghiên cứu cho rằng một nửa lƣợng C này sẽ bị oxi hóa tạo phát thải CO2 (Eong, 1993).