Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT 1. NHẬN THỨC VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC Trái đất ngày càng nóng lên, băng tan, thiên tai lũ lụt xuất hiện với mật độ càng nhiều và trên diện rộng gây ảnh hưởng to lớn đến đời sống của toàn nhân loại. Nguyên nhân do ô nhiễm môi trường, mất rừng, suy thoái đa dạng sinh học, v.
Nhận thức được vấn đề trên các nhà lãnh đạo trên thế giới đã cùng ngồi bàn về môi trường và đa dạng sinh vật tổ chức tại Rio de Janeiro, Brazil năm 1992, có 50 nước đã ký vào Công ước. Việt Nam chính thức tham gia công ước ngày 16/11/1994, đến nay đã có 170 nước tham gia Công ước. Nhiều tổ chức quốc tế được thành lập, như: Hiệp hội Quốc tế về Bảo tồn thiên nhiên (IUCN); Quỹ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên hoang dã (WWF); Quỹ động thực vật thế giới (FFI), v. Thuật ngữ ĐDSH mới được biết đến vào đầu thế kỷ 20 và thật sự phát triển mạnh trong thập niên 90 trở lại đây, trong chương trình hành động đa dạng sinh học Việt Nam [12] đưa ra khái niệm về đa dạng sinh học “Là tập hợp tất cả các nguồn sinh vật sống trên hành tinh bao gồm tổng số các loài động và thực vật; tính đa dạng và sự phong phú trong từng loài, tính đa dạng hệ sinh thái của các cộng đồng sinh thái khác nhau hoặc tập hợp các loài khác nhau trên thế giới với các hoàn cảnh khác nhau”.
Định nghĩa này đã đề cập được ba vấn đề: Đa dạng loài; đa dạng giữa các loài và đa dạng hệ sinh thái, tuy nhiên định nghĩa còn dài, không rõ ràng, dễ nhầm lẫn. Tại Hội nghị Rio de janeiro (1992) đưa ra định nghĩa về ĐDSH như sau: “Đa dạng sinh học là sự biến đổi giữa các sinh vật ở tất cả mọi nguồn, bao gồm hệ sinh thái trên đất liền, trên biển và các hệ sinh thái thủy vực khác. Sự đa dạng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 thể hiện trong từng loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”. Định nghĩa này tương đối đầy đủ và rõ ràng.
Qua các định nghĩa ta có thể hiểu đa dạng sinh học bao gồm các vấn đề sau: 1. Đa dang di truyền 2. Đa dạng về loài 3. Đa dạng về hệ sinh thái 1.
TỔNG QUAN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC 1. Nghiên cứu về hệ thực vật 1. Ở trên thế giới Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đa dạng nói chung và đa dạng thực vật nói riêng, song ở đây chỉ nêu một số công trình tiêu biểu đó là: Thực vật chí Honkong (1861); thực vật chí Australia (1866); thực vật chí Ấn độ, gồm 7 tập (1872- 1897); thực vật chí Hải Nam (1972-1977); thực vật chí Vân Nam (1977), v. Các bộ thực vật chí tuy nghiên cứu ở mỗi Quốc gia hay vùng lãnh thổ khác nhau nhưng việc mô tả, thống kê các loài có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá ĐDSH của khu vực nghiên cứu và trên toàn thế giới.
Ở Việt Nam Trong khoảng nửa đầu thế kỷ 20 trở về trước, các công trình nghiên cứu về thực vật đều do các tác giả nước ngoài thực hiện như: Thực vật rừng Nam bộ của Loureiro (1790); Thực vật chí Nam bộ của Pierre (1879). Có ý nghĩa nhất là “Thực vật chí Đông Dương” của Lecomte đã thống kê được hơn 7.000 loài, trong tác phẩm này tác giả đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 vật có mạch trên toàn lãnh thổ Đông Dương [38]. Năm 1965 trong công trình về Rêu của Pocts đã công bố 556 loài có ở Bắc Việt Nam [34]… Những công trình trên mới chỉ dùng lại ở thống kê số lượng các loài như miền bắc, miền Nam, Việt Nam hoặc toàn vùng Đông Dương, chưa đi sâu nghiên cứu về thảm thực vật. Từ giữa thế kỷ 20 đến nay, các tác giả Việt Nam đã nghiên cứu và công bố các công trình về hệ thực vật như: Bộ cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng hộ (1970-1972), đã đề cập 5.326 loài thực vật và tái bản năm (1991-1993; 1999- 2000) [10] gồm 3 tập, tác giả đã mô tả được 10.
Trong tác phẩm “Một số đặc điểm cơ bản của hệ thực vật Việt Nam” do Lê Trần Chấn, chủ biên đã tổng hợp được 10.193 loài, ít hơn 307 loài so với Phạm Hoàng Hộ (1991-1993) điều này được tác giả giải thích “Sở dĩ có sự khác nhau này do một số là thứ, nhưng Phạm Hoàng Hộ vẫn tính là một loài, hoặc có một số trùng tên, còn so với bộ Thực vật chí Đại cương Đông Dương được Thái Văn Trừng thống kê (1978) đã tăng được 3.188 loài”[5]; 7 tập cây gỗ Việt Nam (1970-1988) [31] do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng công bố; Năm 1993, Trần Đình lý và tập thể đã công bố 1900 cây có ích ở Việt Nam [19]; Võ Văn Chi, (1997) đã công bố từ điển cây thuốc Việt Nam [6] Hiện nay, các tác giả có xu hướng đi sâu nghiên cứu hệ thực vật của địa phương, khu bảo tồn, vườn quốc gia hoặc các họ, cụ thể là: Phạm Hoàng Hộ (1985) đã xuất bản “Danh lục thực vật Phú Quốc”; Phùng Ngọc Lan và Cộng sự, đã công bố hệ thực vật Cúc Phương có 1.983 loài, 915 chi, 229 họ [13]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, trong công trình nghiên cứu đa dạng thực vật núi đá vôi Vườn Quốc gia Pù Mát, công bố 494 loài, 323 chi, 112 họ… hoặc một số họ tiêu biểu đã được nghiên cứu, như: Euphorbiaceae Việt Nam của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nguyễn Nghĩa Thìn (1999), Annonaceae Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000), v. Trên cơ sở những công trình phân loại đã công bố chính thức, Nguyễn Nghĩa Thìn, (1997) [24] đã thống kê toàn bộ hệ thực vật Việt Nam hiện biết được là 11.524 chi của 378 họ. Trong đó, số chi đặc hữu chiếm 3% và số loài đặc hữu chiếm 20%. Các loài, chi đặc hữu phân bố tập trung ở vùng núi cao Hoàng Liên Sơn, vùng rừng ẩm Bắc Trung bộ, vùng núi cao Ngọc Linh và Cao nguyên Lâm Viên.
Theo dự đoán của các nhà khoa học thực vật Việt Nam có khoảng trên 12.000 loài, vì Việt Nam được coi là vùng còn nhiều tiềm ẩn cả về thực vật và động vật. Đây là vấn đề còn bỏ ngỏ tạo điều kiện cho các nhà thực vật điều tra bổ sung và phát hiện loài mới, góp phần ngày một hoàn thiện danh lục thực vật Việt Nam và đi sâu nghiên cứu giá trị tiềm tàng của từng loài. Ở Vũ Quang Vũ Quang được công nhận là Khu bảo tồn năm 1986 với tổng diện tích 16.000 ha và trở thành Vườn Quốc gia năm 2002 với diện tích được mở rộng lên 55. Từ trước năm 1992 ở đây chưa có cuộc khảo sát nào và cũng chưa có tài liệu chính thức nào công bố về động, thực vật của Vũ Quang.
Đến tận tháng 5 năm 1992, đoàn cán bộ của Bộ lâm nghiệp (nay là Bộ NN&PTNT) và Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF) đã phát hiện ra loài động vật mới là Pseudoryx nghetinhensis (Vũ Văn Dũng và cộng sự). Tháng 2/1993, trong một cuộc khảo sát khác đã phát hiện ra một loài thú mới khác là Megamuntiacus vuquangensis (Đỗ Tước và cộng sự). Việc phát hiện ra hai loài thú mới ở cùng một địa điểm khiến cả thế giới biết đến giá trị không thể sánh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 được của nơi này. Kể từ đây các cuộc điều tra về thành phần loài thực vật và sinh cảnh được tiến hành thường xuyên, có quy mô hơn.
Tháng 5 năm 1992, đoàn nghiên cứu khoa học đa ngành gồm cán bộ của Bộ Lâm nghiệp (nay là Bộ NN&PTNT), FIPI, IEBR, Đại học Vinh và WWF khảo sát các loài Chim, Thú, các loài bò sát, lưỡng cư, bướm và các loài thực vật. Tháng 2-3 năm 1993, thành viên là cán bộ của FIPI, Cục Kiểm lâm và WWF, đã hoàn thành danh mục đầu tiên về các loài thú, chim, bò sát, lưỡng cư, cá, bướm và thực vật. Tháng 1 năm 1999, đoàn của dự án Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), điều tra thực vật và xây dựng phòng lưu giữ tiêu bản trong khu Bảo tồn Thiên nhiên. Tổng hợp các nguồn từ điều tra thực địa và tiêu bản thực vật do Nguyễn Thu Hiền (1999) thu thập, được A.Kuznetsov và Vũ Văn Dũng hiệu đính và công bố trong cuốn “Quy hoạch không gian để Bảo tồn Thiên nhiên, Khu Bảo tồn Thiên nhiên Vũ Quang” với tổng số loài là 423 loài thực vật.
Năm 2005, dự án đầu tư xây dựng và phát triển VQG Vũ Quang, do Phân viện Điều tra Quy hoạch rừng Bắc Trung bộ đã công bố 523 loài, tăng 100 loài. Khi nghiên cứu “hệ thực vật bậc cao có mạch tại xã Hương Điền, thuộc VQG Vũ Quang”, do Phan Thị Thuý Hà đã xác định được 349 loài, thuộc 215 chi và 79 họ. Ngoài ra, còn có đoàn khảo sát của viện dược liệu điều tra về thành phần cây thuốc (chưa công bố), do Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật điều tra họ Cau dừa, v. Theo ước tính của các nhà khoa học và so sánh với các khu bảo tồn, VQG ở khu vực lân cận: Khu bảo tồn sinh thái nhân văn vung cao (HEPA) có diện tích 326 ha, nằm giáp ranh giới với vườn thuộc xã Sơn Kim, đã ghi nhận 806 loài, 468 chi, 155 họ; VQG Pù Mát có 2.494 loài thực vật.
Với điều kiện địa hình địa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 mạo, vị trí địa lý và độ che phủ trên 90%, chúng ta có thể khẳng định hệ thực vật của VQG Vũ Quang không chỉ dừng lại ở con số 423 loài hay 523 loài, mà con số này phải lớn hơn rất nhiều.5 Sở dĩ số loài thực vật được công bố này rất ít so với tiềm năng của VQG, số liệu được tổng hợp từ các nhóm điều tra khác nhau và sử dụng nhiều phương pháp khác nhau, thời lượng khảo sát ít, chủ yếu thu thập các cây gỗ và loài có giá trị. Chưa quan tâm đến các loài thực vật ngoại tầng… Trong bản luận văn này, cũng xin đóng góp một phần nhỏ bé vào đánh giá ĐDSH của VQG Vũ Quang. Tuy nhiên, do thời gian còn hạn chế nên cũng chỉ dừng lại ở việc tổng hợp các công trình nghiên cứu trước, loại bỏ các loài cây trồng, chỉ ghi nhận những loài có trong tự nhiên, chỉnh lí các loài, chi, họ theo hệ thống phân loại của Brummitt (1992) và có điều tra bổ sung thêm một số loài mới.