CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI 1. Dịch vụ môi trường rừng * Khái niệm Hiện nay, trên thế giới chưa có một khái niệm chính thức về dịch vụ môi trường rừng (DVMTR), nhưng vì coi rừng là một hệ sinh thái (HST), nên có thể hiểu DVMTR cũng là dịch vụ HST rừng.
Khái niệm dịch vụ HST được nhiều nhà khoa học quan tâm từ những năm 70. Nhưng theo Báo cáo đánh giá hệ sinh thái thiên niên kỷ (MEA) năm 2005 “dịch vụ HST là các lợi ích mà con người hưởng thụ từ các HST bao gồm 4 chức năng: chức năng cung cấp hàng hoá, chức năng điều tiết, chức năng văn hóa và chức năng hỗ trợ”[MEA, 2005]. Một số nghiên cứu khác cho rằng dịch vụ HST rừng là “sự đóng góp của cấu trúc và chức năng sinh thái tạo ra sự thịnh vượng của con người”(Felix Müller, 2007). Theo tổ chức kinh tế sinh thái và đa dạng sinh học (The Economics of Ecosystems and Biodiversity) Luận án tiến sĩ Môi trường cho rằng “dịch vụ HST có tác động trực tiếp và gián tiếp tới sự thịnh vượng của con người” [TEEB, 2010].
Như vậy, dù theo khái niệm nào thì DVMTR đều được tạo ra từ cấu trúc và chức năng của HST và nó mang lại những lợi ích trực tiếp và gián tiếp cho người. * Vai trò và ý nghĩa của dịch vụ môi trường rừng DVMTR góp phần duy trì cuộc sống của con người và các sinh vật sống trên Trái đất này. Dịch vụ cung cấp không gian sống của rừng đem lại nơi cư trú cho 80% sinh vật trên cạn [Jenkins, 2018]. Dịch vụ cung cấp nguồn gen và sinh vật của rừng đã góp phần cấu thành nên sinh quyển.
Sự ĐDSH của rừng có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với khoa học, cảnh quan du lịch phát triển kinh tế. Chính sự ĐDSH đã cung cấp nguyên vật liệu cho nhiều ngành công nghiệp cũng như cuộc sống hàng ngày. Hàng năm dịch vụ cung cấp gỗ từ rừng vào khoảng 1,7 tỷ m3 trên toàn thế giới và 80% lượng gỗ trên đến từ các nước đang phát triển [Krieger, 2001]. Một số nghiên cứu về giá trị trực tiếp của DVMTR đã đem lại những cải thiện nhất định đối với sinh kế nông thôn [Hogarth, 2013; Angelsen, 2014].
Dịch vụ cung cấp các nguồn dược liệu vô cùng quý hiếm từ rừng giúp con người chữa trị nhiều bệnh nan 4 y. Dịch vụ điều tiết của rừng có ý nghĩa lớn trong vai trò điều hòa khí hậu, ngăn gió, chắn bão, duy trì nhiệt độ và độ ẩm ổn định trên bề mặt Trái đất, trung bình HST rừng có thể hấp thụ được 36,4 tấn /năm/ha bụi từ không khí. Mỗi năm sinh vật quang hợp trên Trái đất khoảng 170 tỷ tấn CO2, để tạo ra khoảng 100 tỷ tấn chất hữu cơ, 115 tỷ tấn O2 tự do, tạo điều kiện cho sự tồn tại và tiến hóa của các dạng sống trên Trái đất. DVMTR cũng duy trì, kết nối các quá trình sinh địa hóa trên Trái đất [Smith, 2012].
Điều này cho thấy các DVMTR có ý nghĩa và vai trò lớn đối với cuộc sống của con người và các sinh vật trên Trái đất. * Phân loại dịch vụ môi trường rừng Phân loại DVMTR đã được tranh luận nhiều trong những năm gần đây [Krieger, 2001; Costanza, 2008; De Groot, 2010] và theo nhiều phương án khác nhau. Theo Krieger (2001) cho rằng DVMTR rừng bao gồm: + Dịch vụ cung cấp gỗ; + Dịch vụ cung cấp lâm sản ngoài gỗ: củi, dược liệu, thực phẩm, cây sợi, măng, nấm, động vật hoang dã… Luận án tiến sĩ Môi trường + Dịch vụ bảo vệ đầu nguồn: bảo vệ nguồn nước, đất phục vụ cho các hoạt động sản xuất của người dân hạ lưu, phát triển thủy điện, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp. + Dịch vụ hấp thụ CO2: góp phần điều hòa khí hậu, giảm khí nhà kính.
+ Dịch vụ du lịch sinh thái, văn hóa, nghỉ dưỡng. + Dịch vụ ổn định và chống xói mòi đất: rừng giúp cho đất ổn định, giảm xói mòn và rửa trôi chất hữu cơ. + Dịch vụ điều hòa không khí: cây rừng hấp thụ các chất độc hại trong không khí và cải thiện chất lượng không khí để tốt cho sức khỏe của con người. + Dịch vụ cung cấp lưu trữ thông tin, vật liệu di truyền của ĐDSH.
+ Dịch vụ quản lý dịch hại. + Lợi ích thẩm mỹ. + Kiểm soát hiểm họa thiên nhiên. Trong các DVMTR kể trên thì dịch vụ bảo tồn ĐDSH, điều hòa khí hậu, bảo vệ đất, hạn chế suy thoái và xói mòn đất, điều tiết và duy trì nguồn nước là những nhóm DVMT quan trọng nhất [Jenkins, 2018].
5 Tuy nhiên, phương án phân loại DVMTR được công nhận nhiều nhất là theo đánh giá HST thiên niên kỷ năm 2005. Trong đó, các DVMTR được phân thành 4 nhóm dịch vụ chính theo cấu trúc và chức năng của HST rừng bao gồm [MEA, 2005]: + Dịch vụ cung cấp là các sản phẩm được tạo ra hoặc cung cấp bởi HST rừng như: gỗ, củi, thực phẩm, dược liệu, nhiên liệu, nước sạch… + Dịch vụ điều tiết là lợi ích mà con người được hưởng từ sự điều tiết của các quá trình sinh thái như: điều tiết lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn đất và dịch bệnh… + Dịch vụ hỗ trợ là dịch vụ cần thiết cho sự sinh trưởng của các dịch vụ HST khác như: cung cấp môi trường sống, hình thành đất và chu trình dinh dưỡng… + Dịch vụ du lịch và văn hóa là những lợi ích phi vật chất từ HST như: giá trị du lịch, giải trí, nghiên cứu, tôn giáo và các lợi ích phi vật chất khác. Lượng hóa giá trị dịch vụ môi trường rừng Vườn Quốc gia trên Thế giới DVMTR tại các VQG ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của con người, tuy nhiên hầu hết các DVMTR này đều không có giá trên thị trường nên giá trị của nó thường không được phản ánh đúng. Vì vậy, cần Luận án tiến sĩ Môi trường phải nghiên cứu lượng hóa giá trị DVMTR tại VQG để các bên liên quan nhận thức đúng và duy trì việc bảo vệ DVMTR tại VQG.
Tuy nhiên, việc lượng giá DVMTR rất khó khăn, phức tạp không phải dịch vụ nào cũng lượng hóa được giá trị một cách chính xác và thuyết phục. Nên các nhà khoa học trên thế giới thường sử dụng phương pháp tiếp cận tổng giá trị kinh tế của VQG để xác định các giá trị DVMTR từ đó xác định các phương pháp lượng hóa cho phù hợp. Cách tiếp cận tổng giá trị kinh tế của Vườn Quốc gia Các Vườn Quốc gia (VQG) được thành lập, quản lý, sử dụng chủ yếu cho mục tiêu bảo tồn rừng và HST rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái. Tuy nhiên hiện nay, có nhiều cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng các sản phẩm của các VQG và họ có thể chi trả cho các sản phẩm, dịch vụ đó.
Theo khái niệm kinh tế, đó là nhu cầu của thị trường. Vì vậy, theo xu thế tất yếu của thị trường, các VQG sẽ trở thành các đơn vị cung cấp hàng hóa cho thị trường. Họ bán các dịch vụ về ĐDSH, dịch vụ du lịch, dịch vụ điều tiết và duy trì nguồn nước. để có kinh phí phát triển các VQG.
6 Vấn đề là cần xác định các nhu cầu của từng loại khách hàng để có chiến lược cung cấp các loại hàng hóa dịch vụ tương ứng. Các hàng hoá, dịch vụ và sản phẩm của các VQG có khả năng tái tạo cao, chúng không bị mất đi mà ngược lại, nếu được chăm sóc và bảo vệ thì chúng ngày càng có giá trị cao hơn. Do vậy các nhà quản lý VQG cần phải xác định rõ các giá trị kinh tế của VQG để có kế hoạch quản lý và kinh doanh một cách hợp lý và bền vững. Các giá trị này được biết đến thông qua cách tiếp cận về tổng giá trị kinh tế (TEV- total economic value) và được phân thành giá trị sử dụng và giá trị chưa sử dụng [Pearce, 2001]: - Giá trị sử dụng: hình thành từ việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên bao gồm: giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp, giá trị ý niệm (giá trị chọn lựa): + Giá trị sử dụng trực tiếp: là các giá trị thu được từ các hoạt động trực tiếp sử dụng các sản phẩm, DVMTR của VQG như tham quan, du lịch, thu hái sản phẩm tự nhiên, dịch vụ bảo tồn gen, học tập nghiên cứu.
Các hoạt động dịch vụ này có thể thương mại hoá - có nghĩa là được bán trên thị trường (du lịch, nghiên cứu, thu hái sản phẩm tự nhiên…), hoặc phi thị trường hay không có quy chế thị trường để trao Luận án tiến sĩ Môi trường đổi mua bán các dịch vụ này (ví dụ như thu lượm củi đun, hay chăn thả gia súc). Giá trị của các dịch vụ thương mại hoá được đánh giá bằng giá thị trường. Tuy nhiên nếu giá này được các cơ quan hành chính quy định thì giá đó có thể chưa phản ánh giá trị thực tế của thị trường. Giá trị của các dịch vụ phi thị trường rất khó xác định, và thường được định giá trên cơ sở so sánh với giá các sản phẩm cùng loại trên thị trường, hoặc dựa vào mức độ sẵn lòng trả của người dùng (WTP).
Phương pháp này hiện đang sử dụng phổ biến trong việc nghiên cứu định giá các loại DVMT phi thị trường của VQG. + Giá trị sử dụng gián tiếp: giá trị này thu được từ các hoạt động gián tiếp sử dụng các dịch vụ của VQG. Các dịch vụ gián tiếp này có thể liên quan đến chức năng sinh thái của VQG như điều hòa khí hậu, hấp thụ các-bon, chống xói mòn, là nơi cư trú của các loài côn trùng giúp thụ phấn cho cây cỏ, mùa màng; hay là nơi trú ẩn của các loài chim ăn thịt, góp phần giảm bớt sự phá hoại của các loài gặm nhấm. Các giá trị sử dụng gián tiếp rất đa dạng và khó để định giá trên thị trường.
Cần có các phương pháp kỹ thuật khác để đánh giá. 7 + Giá trị ý niệm (giá trị chọn lựa): giá trị này được thể hiện thông qua việc chọn lựa các cách thức sử dụng tài nguyên trong tương lai, được đo bằng giá sẵn lòng trả (WTP) cho việc bảo vệ hệ thống tài nguyên thiên nhiên hoặc các thành phần của hệ thống, dựa trên xác suất là vào một ngày nào đó sau này chúng sẽ được sử dụng (vì lợi ích của bản thân sau này).