Chương 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Chương 2. Đánh giá thực trạng công tác thu hồi đất, GPMB của dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới ngã 5- sân bay Cát Bi. Đề xuất một số giải pháp cho công tác thu hồi đất, GPMB của dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới Ngã 5- sân bay Cát Bi.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về việc thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ Đất đai là tài nguyên quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế của sản xuất nông, lâm nghiệp, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là toàn bộ lãnh thổ gắn với chủ quyền của một quốc gia, là nguồn lực hàng đầu để phát triển bền vững, và là cơ sở để phát triển các hệ bảo tồn sinh thái. Đất đai đặc biệt có ý nghĩa trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Có thể kết luận ngắn gọn về đất đai theo Hiến chương về đất được Ủy ban các Bộ trưởng Châu Âu biểu quyết tại Nghị quyết 19 năm 1972 như sau: “Ruộng đất là một trong những của cải quý nhất của loài người, nó tạo điều kiện cho sự sống của thực vật, động vật và con người trên mặt đất”. Về vấn đề sở hữu đất đai, ngay sau khi giành độc lập, ra đời bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946, Nhà nước ta đã khẳng định “Quyền sở hữu tài sản của công dân Việt Nam được đảm bảo”, trong đó đất đai là một tài sản quan trọng nhất của mọi con người (Điều 12 Hiến pháp năm 1946). Từ đó cho đến nay, qua mỗi giai đoạn lịch sử, Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và Hiến pháp năm 1992 có những quy định khác nhau về vấn đề sở hữu đất đai từ đó để xác lập chế độ quản lý và sử dụng đất, cụ thể qua hình sau: Hiến pháp năm 1946: Xác lập nhiều hình thức sở hữu về đất đai Hình 1.1: Hiến pháp năm 1959: Sở hữu Nhà nƣớc; Sở hữu tập thể; Sở hữu tƣ nhân Quy định về sở hữu đất đai Hiến pháp năm 1980 qua các Quy định 1 hình thức sở hữu duy nhất là: Sở hữu toàn dân thời kỳ lịch sử Hiến pháp năm 1992: Quy định 1 hình thức sở hữu duy nhất là: Sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý Hình 1.1: Quy định về sở hữu đất đai qua các thời kỳ lịch sử Theo hình trên ta có thể thấy, trước năm 1980 còn nhiều hình thức sở hữu về đất đai, sản phẩm của thời kỳ quan liêu bao cấp, thì sau năm 1980 ở nước ta chỉ còn một hình thức 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sở hữu duy nhất đối với đất đai là sở hữu toàn dân. Quan hệ đất đai ở nước ta dựa trên nền tảng đất đai thuộc sở hữu toàn dân mà Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu.
Quy định này có sự tách bạch giữa chủ thể thực hiện quyền sở hữu đất đai và người thực hiện quyền sử dụng đất. Quan hệ về đất đai do đó xuất phát từ quan hệ mang tính quyền lực. Trong ba quyền cơ bản nhất của chủ sở hữu là chiếm hữu, sử dụng và định đoạt, Nhà nước có đủ ba quyền nhưng trao quyền chiếm hữu và sử dụng cho người sử dụng đất, chỉ nắm quyền định đoạt đối với đất đai và thực hiện quyền nay bằng các hình thức: Quyết định mục đích sử dụng đất thông qua việc quyết định, xét duyệt quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất; quy định về hạn mức giao đất và thời hạn sử dụng đất; quyết định giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; định giá đất. Nhà nước thực hiện quyền điều tiết các nguồn lợi từ đất đai thông qua các chính sách tài chính về đất đai.
Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất, cho phép người sử dụng đất được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất và bảo đảm cho người sử dụng bằng cách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khái niệm về thu hồi đất Thu hồi đất là một biện pháp pháp lý làm chấm dứt quan hệ pháp luật đối với đất đai. Hình thức của nó là một quyết định thu hồi đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nó thể hiện quyền lực nhà nước trong tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai. Thu hồi đất cũng là nội dung quan trọng trong quản lý nhà nước về đất đai nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội đồng thời lập lại trật tự kỷ cương trong quản lý Nhà nước về đất đai.
[30] Thu hồi đất được hiểu dưới các khía cạnh sau đây: - Là một quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm chấm dứt quan hệ sử dụng đất của người sử dụng, nó thể hiện quyền lực nhà nước nhằm thực thi một trong những nội dung quản lý nhà nước về đất đai; - Việc thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước và xã hội hoặc là biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp luật đất đai và một số trường hợp đương nhiên. Từ đó có thể định nghĩa: thu hồi đất là văn bản hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm chấm dứt một quan hệ pháp luật đối với đất đai để phục vụ lợi ích của Nhà nước, của xã hội hoặc xử lý hành chính hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất.[30] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Khái niệm về bồi thường Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu nhưng Nhà nước lại trao quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất. Người sử dụng đất tuy rằng không phải chủ sở hữu nhưng lại có 2/3 nhóm quyền của chủ sở hữu (chỉ không có quyền định đoạt).
Do nhu cầu của mình, Nhà nước thu hồi đất, người sử dụng đất buộc phải thực hiện nhưng được Nhà nước trả lại quyền sử dụng đất đối với diện tích thu hồi bằng các chính sách bồi thường. Trong lĩnh vực pháp luật Đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) được đặt ra từ rất sớm. Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ tại chương II đã đề cập việc "Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng". Tiếp đến Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu niên, các hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mới mở rộng thành phố cũng đề cập đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Đặc biệt khi Luật Đất đai năm 1987 ra đời, Hội đồng Bộ trưởng (nay là chính phủ) đã ban hành Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1990 quy định về đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác, thuật ngữ "bồi thường" được thay thế bằng thuật ngữ "đền bù". Thuật ngữ này tiếp tục được sử dụng trong Luật Đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 1998 và các Nghị định hướng dẫn thi hành như Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1994 của Chính phủ ban hành về việc đền bù thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng. Nghị định số 22/1998/NĐ-CP ngày 22/4/1998 của Chính phủ quy định về đền bù thiệt hai khi Nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng. Tuy nhiên khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai năm 2001 được Quốc Hội ban hành, thuật ngữ "bồi thường" được sử dụng trở lại và tiếp tục xuất hiện trong Luật Đất đai năm 2003 và Luật Đất đai năm 2013.
Bên cạnh đó là một loạt các văn bản dưới Luật quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như các Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Do quan hệ đất đai mang tính quyền lực nên khi Nhà nước thu hồi đất, người có đất bị thu hồi không có quyền thỏa thuận với các cơ quan nhà nước. Nhà nước tự mình quy định chính sách bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi. Theo khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất”.
[30] Còn khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất”. [30] Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất có một số đặc trưng cơ bản sau đây: - Bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nhằm bù đắp tổn thất về quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Trách nhiệm này được quy định rất rõ trong Luật Đất đai; - Bồi thường là hậu quả pháp lý trực tiếp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra. Điều này có nghĩa là chỉ phát sinh sau khi có quyết định hành chính về hành vi thu hồi đất của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; - Bồi thường được thực hiện trong mối quan hệ song phương giữa một bên là Nhà nước (chủ thể có hành vi thu hồi đất) với bên kia là người chịu tổn hại về quyền và lợi ích hợp pháp do hành vi thu hồi đất của Nhà nước gây ra.