Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia. Là sản phẩm của tự nhiên, là tư liệu sản xuất không thể thay thế, đồng thời do dân số ngày càng tăng nhanh mà quỹ đất thì có hạn nên đất đai ngày càng có giá trị cao. Việc quy hoạch, thu hồi, bố trí, sắp xếp lại đất đai đáp ứng cho những nhu cầu trên một cách hợp lí và khoa học, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước là một vấn đề lớn. Trong những điều kiện quỹ đất ngày càng hạn hẹp, giá đất ngày càng tăng cao, nhịp độ phát triển ngày càng lớn thì nhu cầu giải phóng mặt bằng càng trở nên cấp thiết và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên phạm vi vùng, quốc gia.
Vấn đề bồi thường, giá đất, giải phóng mặt bằng trở thành điều kiện tiên quyết để thực hiện dự án phát triển, nếu không được xử lí tốt thì sẽ trở thành vật cản của sự phát triển kinh tế - xã hội , bởi vậy đòi hỏi phải có sự quan tâm đúng mức và giải quyết triệt để. Yên Bái là một tỉnh nằm trong vùng động lực phát triển kinh tế các tỉnh phía Bắc. Trong những năm qua, đặc biệt trong những năm gần đây quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đã phát triển nhanh. Huyện Mù Cang Chải nằm ở phía tây của tỉnh Yên Bái.
Với vị trí địa lý, kinh tế xã hội thuận lợi, có nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng phong phú đặc biệt là nguồn tài nguyên khoáng sản (Quặng sắt, đất sét, đá vôi, cát sỏi.), nằm trên trục Quốc lộ 32 đi tỉnh Lai Châu và Lào Cai đã tạo cho huyện Mù Cang Chải những điều kiện lý tưởng để thu hút các dự án đầu tư khai thác tài nguyên khoáng sản, thực hiện CNH - HĐH với sự phát triển của các cụm công nghiệp, các nhà máy xí nghiệp hiện đại, các khu dân cư mới, các công trình văn hóa xã hội.Do vậy công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án trên địa bàn rất được các cấp, các ngành của tỉnh cũng như huyện quan tâm. Tuy vậy công tác giải phóng mặt bằng có những tác động không nhỏ đến sự phát triển kinh tế, đời sống xã hội trong đó có cả những vấn đề tích cực và cả những vấn đề tiêu cực. 2 Để công tác giải phóng mặt bằng trở thành yếu tố thực sự thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phù hợp với cơ chế thị trường vừa phải giải quyết các vấn đề xã hội. Đó là lý do em chọn đề tài: “ Đánh giá công tác giải phóng mặt bằng dự án trường phổ thông dân tộc bán trú tiểu học và trung học cơ sở xã Chế Cu Nha và xã Mồ Dề , huyện Mù Cang Chải , tỉnh Yên Bái”.
Mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu: Điều tra, đánh giá việc thực hiện và kết quả công tác giải phóng mặt bằng dự án xây dựng trường PTDTBT Tiểu học và Trung học cơ sở xã Chế Cu Nha và dự án xây dựng trường PTDTBT Tiểu học và Trung học cơ sở xã Mồ Dề huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Yêu cầu của đề tài: - Nắm vững luật và các văn bản luật liên quan đến công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. - Đánh giá thực trạng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng.
- Tài liệu, số liệu đảm bảo chính xác trung thực khách quan. - Đề xuất những giải pháp có tính khả thi đối với công tác tái định cư khi bồi thường giải phóng mặt bằng. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nguyên cứu: Bổ sung những kiến thức đã học trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế và hiểu rõ hơn về công tác quản lý Nhà nước về đất đai, cụ thể là công tác BT&GPMB, hỗ trợ tái định cư. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ quá trình nguyên cứu đề tài giúp tìm ra được những thuận lợi, khó khăn của công tác BT&GPMB để từ đó rút ra những giải pháp khắc phục, góp phần đẩy nhanh tiến độ BT&GPMB.
3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng 2. Khái niệm về bồi thường, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng. Thực chất của việc GPMB là chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất dưới sự điều tiết của Nhà nước để phục vụ vào mục đích an ninh, quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng.
Luật Đất đai 1993 quy định như sau: Điều 26: Nhà nước thu hồi toàn bộ hoặc một phần đất đã giao sử dụng trong những trường hợp sau đây:[4] 1. Tổ chức sử dụng đất bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm nhu cầu sử dụng đất mà không thuộc các trường hợp quy định tại Điều 30 của Luật này; cá nhân sử dụng đất đã chết mà không có người được quyền tiếp tục sử dụng đất đó. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất được giao. Đất không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liền mà không được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất đó cho phép.
Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước. Đất sử dụng không đúng mục đích được giao. Đất được giao không theo đúng thẩm quyền quy định tại Điều 23 và Điều 24 của Luật này (Luật Đất đai 1993) [4]. Điều 28: Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó (Luật Đất đai 1993) [4].
Luật Đất đai 2003 quy định như sau: Điều 38. Các trường hợp thu hồi đất Nhà nước thu hồi đất trong các truờng hợp sau đây: 1. Nhà nước sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc 4 gia, lợi ích công cộng, phát triển kinh tế. Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước hoặc cho thuê đất thu tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất.
Sử dụng đất không đúng mục đích, sử dụng đất không có hiệu quả. Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất. Đất được giao không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền. Đất bị lấn, chiếm trong các trường hợp sau đây: a) Đất chưa sử dụng bị lấn, chiếm.
b) Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm. Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế. Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất. Người sử dụng đất cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn mà không được gia hạn khi hết thời hạn. Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn mười tám tháng liền; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn hai mươi bốn tháng liền. Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn mười hai tháng liền hoặc tiến độ sử dụng đất chậm hơn hai mươi bốn tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư, kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đó cho phép (Luật Đất đai 2003) [3]. Bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi [3].
Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất mà người bị thu hồi đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận 11 quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Luật này thì người bị thu 5 hồi đất được bồi thường, trừ các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11 và 12 Điều 38 và các điểm b, c, d, đ và g khoản 1 Điều 43 của Luật này. Người bị thu hồi loại đất nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm có quyết định thu hồi. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương lập và thực hiện các dự án tái định cư trước khi thu hồi đất để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở. Khu tái định cư được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ.
Trường hợp không có khu tái định cư thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền và được ưu tiên mua hoặc thuê nhà ở thuộc sở hữu của Nhà nước đối với khu vực đô thị; bồi thường bằng đất ở đối với khu vực nông thôn, trường hợp giá trị quyền sử dụng đất ở bị thu hồi lớn hơn đất ở được bồi thường thì người bị thu hồi đất được bồi thường bằng tiền đối với phần chênh lệch đó. Trường hợp thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất mà không có đất để bồi thường cho việc tiếp tục sản xuất thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền, người bị thu hồi đất còn được Nhà nước hỗ trợ để ổn định đời sống, đào tạo chuyển đổi ngành nghề, bố trí việc làm mới. Trường hợp người sử dụng đất được Nhà nước bồi thường khi thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi giá trị nghĩa vụ tài chính chưa thực hiện trong giá trị được bồi thường, hỗ trợ. Chính phủ quy định việc bồi thường, tái định cư cho người có đất bị thu hồi và việc hỗ trợ để thực hiện thu hồi đất (Luật Đất đai 2003) [3].
Thẩm quyền thu hồi đất [3]. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định thu hồi đất đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, 6 tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.