Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở pháp lý Nhằm quản lý và bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai một cách hợp lý phục vụ mục tiêu phát triển bền vững, đáp ứng nhu cầu của hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến lợi ích của thế hệ tương lai, trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã từng bước tháo gỡ những khó khăn bằng cách xây dựng hệ thống pháp luật về đất đai, đầu tiên là Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi năm 1998, năm 2001) sau đó được thay thế bằng Luật Đất đai năm 2003 đã được Quốc hội thông qua. Bên cạnh đó, nhiều bộ luật liên quan khác cũng đã được ban hành, như Luật Bảo vệ môi trường; Luật Bảo vệ và phát triển rừng;.
và các Nghị định, Thông tư, văn bản hướng dẫn thi hành Luật do Chính phủ, các bộ, ngành, UBND tỉnh Thái Nguyên ban hành. Sau đây là những cơ sở pháp lý được nghiên cứu để thực hiện đề tài: - Luật Đất đai 2003 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009) (sau đây gọi là Luật Đất đai 2003); - Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; - Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, Quy định bổ sung về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; - Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ, về việc quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư; 5 - Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 15/6/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ, Quy định bổ sung về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Luật Đất đai được Quốc hội Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 10/12/2003 và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2004. Các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai đã được Chính phủ ban hành và có hiệu lực thi hành. Luật Đất đai năm 2003 là đạo luật rất quan trọng, có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao hiệu lực quản lý, khuyến khích việc sử dụng hợp lý và có hiệu quả nguồn lực đất đai, góp phần tích cực cho việc phát triển mọi mặt đời sống, kinh tế , xã hội.
Trên địa bàn thành phố Thái Nguyên nói riêng, Sau nhiều năm triển khai thi hành Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đất đai, công tác quản lý Nhà nước về đất đai đã từng bước đi vào nền nếp, trong đó công tác cho thuê đất chiếm phần lớn công việc có liên quan đến lĩnh vực đất đai. Tuy nhiên, công tác quản lý Nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Thái Nguyên vẫn còn những hạn chế; tiềm năng đất đai chưa phát huy hết; hiệu quả sử dụng đất đai chưa cao. Việc nghiên cứu triển khai thực hiện tốt Luật đất đai, thực hiện tốt quản lý Nhà nước về đất đai, đặc biệt là trong công tác cho thuê đất để thực hiện các dự án nhằm sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả, phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất, góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhà. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1.
Dự án đầu tư và vai trò của dự án đầu tư trong việc hoạch định phát triển - Khái niệm dự án đầu tư và phân loại dự án đầu tư + Khái niệm 6 Luật Đầu tư 2005 đã đưa ra những khái niệm cụ thể về dự án đầu tư. Điều 3 của Luật giải thích: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định [7]. + Phân loại dự án đầu tư * Phân loại theo quy mô và tính chất dự án: theo quy mô và tính chất quan trọng có Dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, B, C [7]. * Phân loại dự án theo nguồn vốn đầu tư: theo nguồn vốn đầu tư, các dự án được phân loại như phân loại đầu tư theo nguồn vốn đầu tư.
Trong đó có điểm cần chú ý là đối với các dự án sử dụng vốn khác, bao gồm cả vốn tư nhân, chủ đầu tư tự quyết định hình thức và nội dung quản lý dự án [7]. - Vai trò của dự án đầu tư trong việc hoạch định phát triển Vai trò của dự án đầu tư được thể hiện cụ thể ở những điểm chính sau: + Đối với chủ đầu tư: dự án là căn cứ quan trọng để quyết định sự bỏ vốn đầu tư. Dự án đầu tư được soạn thảo theo một quy trình chặt chẽ trên cơ sở nghiên cứu đầy đủ về các mặt tài chính, thị trường, kỹ thuật, tổ chức quản lý. Do đó, chủ đầu tư sẽ yên tâm hơn trong việc bỏ vốn ra để thực hiện dự án vì có khả năng mang lại lợi nhuận và ít rủi ro.
Mặt khác, vốn đầu tư của một dự án thường rất lớn, chính vì vậy ngoài phần vốn tự có các nhà đầu tư còn cần đến phần vốn vay ngân hàng. Dự án là một phương tiện rất quan trọng giúp chủ đầu tư thuyết phục ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng xem xét tài trợ cho vay vốn. Dự án đầu tư cũng là cơ sở để chủ đầu tư xây dựng kế hoạch đầu tư, theo dõi, đôn đốc và kiểm tra quá trình thực hiện đầu tư. Quá trình này là những kế hoạch mua sắm máy móc thiết bị, kế hoạch thi công, xây lắp, kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Ngoài ra, dự án còn là căn cứ để đánh giá và điều chỉnh kịp thời những tồn đọng vướng mắc trong quá trình thực hiện đầu tư, khai thác công trình. 7 + Đối với Nhà nước: Dự án đầu tư là cơ sở để cơ quan quản lý Nhà nước xem xét, phê duyệt cấp vốn và cấp giấy phép đầu tư. Vốn ngân sách Nhà nước sử dụng để đầu tư phát triển theo kế hoạch thông qua các dự án các công trình, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp Nhà nước, các dự án đầu tư quan trọng của quốc gia trong từng thời kỳ. Dự án sẽ được phê duyệt, cấp giấy phép đầu tư khi mục tiêu của dự án phù hợp với đường lối, chính sách phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, khi hoạt động của dự án không gây ảnh hưỏng đến môi trường và mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội.
Dự án được phê duyệt thì các bên liên quan đến dự án phải tuân theo nội dung, yêu cầu của dự án. Nếu nảy sinh mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên liên quan thì dự án là một trong những cơ sở pháp lý để giải quyết. + Đối với nhà tài trợ: Khi tiếp nhận dự án xin tài trợ vốn của chủ đầu tư thì họ sẽ xem xét các nội dung cụ thể của dự án đặc biệt về mặt kinh tế tài chính, để đi đến quyết định có đầu tư hay không. Dự án chỉ được đầu tư vốn nếu có tính khả thi theo quan điểm của nhà tài trợ.
Ngược lại khi chấp nhận đầu tư thì dự án là cơ sở để các tổ chức này lập kế hoạch cấp vốn hoặc cho vay theo mức độ hoàn thành kế hoạch đầu tư đồng thời lập kế hoạch thu hồi vốn. Đất đai và vai trò của đất đai. * Đất đai và đặc điểm của đất đai - Các quan niệm về đất đai + Đất (soil): Lớp đất mặt của vỏ trái đất gọi là Thổ nhưỡng. Thổ nhưỡng phát sinh là do tác động lẫn nhau của khí trời (Khí quyển), nước (Thủy quyển), sinh vật (Sinh quyển) và đá mẹ (Thạch quyển) qua thời gian lâu dài.
+ Đất (land): Khái niệm đất có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau: • Đất như là không gian • Đất như là cộng đồng lãnh thổ • Đất như là vị trí địa lý 8 • Đất như là nguồn vốn • Đất như là môi trường • Đất như là tài sản Luật Đất đai 2003 của Việt Nam quy định: Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặt biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng. Việc phân loại đất hiện nay ở Việt Nam theo 02 cách: + Phân loại đất theo thổ nhưỡng (theo Khoa học đất): Mục đích để xây dựng bản đồ thổ nhưỡng. Có 3 trường phái chủ yếu: • Phân loại đất theo nguồn gốc phát sinh • Phân loại đất theo định lượng các tầng đất • Phân loại đất theo FAO - UNESCO + Phân loại đất theo mục đích sử dụng đất: • Căn cứ vào quỹ đất, mục đích sử dụng đất, chính sách thuế, các nước có bảng phân loại đất khác nhau: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng (đất xây dựng cơ sở hạ tầng, đất khu công nghiệp, đất thương mại, du lịch, sinh thái, bảo tồn), đất đô thị, đất ven đô thị, đất an ninh quốc phòng, đất ở và hành chính nông thôn, đất chưa sử dụng, đất hoang… • Đối với Việt nam: từ 1/7/2004 theo quy định của Luật đất đai 2003, đất đai được chia thành 3 loại: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. - Đặc điểm của đất đai Như ta đã biết đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với vòng quay của bánh xe thời gian thì con người xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo đất 9 đai và biến đất đai từ sản phẩm của tự nhiên lại mang trong mình sức lao động của con người, tức cũng là sản phẩm của của xã hội.
+ Dưới góc độ là tài nguyên Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá. Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của các sinh vật trên trái đất trong đó có con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp.