Đặt vấn đề Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng nền tảng cho sự sống và mọi hoạt động sản xuất của con người đều bắt nguồn từ đất đai. Trải qua nhiều thế hệ, cha ông ta đã tốn nhiều công sức và xương máu để tạo lập vốn đất đai như hiện nay. Để tiếp tục sự nghiệp khai thác và bảo vệ toàn bộ quỹ đất tốt hơn có hiệu quả hơn, Đảng và nhà nước ta đã ban hành các văn bản luật phục vụ cho công tác quản lý có hiệu quả. Theo điều 1 của Luật đất đai 2003 thì đất đai thuộc sở hữu của toàn dân do nhà nước quản lý.
Hiện nay đất nước ta đang trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa cùng với sự tăng nhanh của dân số và phát triển của nền kinh tế đã gây áp lực rất lớn đối với đất đai, trong khi đó diện tích đất lại không hề tăng lên. Vậy đòi hỏi con người phải biết cách sử dụng hợp lý tài nguyên có giới hạn đó. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay các vấn đề về đất đai đang là vấn đề rất nóng bỏng, các vấn đề trong lĩnh vực này ngày càng phức tạp và nhạy cảm. Do đó hoạt động quản lý đất đai của nhà nước có vai trò rất quan trọng để xử lý các trường hợp vi phạm pháp luật đai, tranh chấp đất đai, đảm bảo công bằng ổn định kinh tế xã hội.
Phấn Mễ là một xã thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, nằm ở phía Tây Nam của huyện và giáp với xã Động Đạt ở phía bắc và Tây Bắc, giáp với hai xã Yên Lạc và Tức Tranh ở phía Đông Bắc, giáp với xã Vô Tranh ở phía Đông, giáp với thị trấn Giang Tiên ở phía Đông Nam và với hai xã Tân Linh và Phục Linh của huyện Đại Từ ở phía Tây và Tây Nam. Tuyến quốc lộ 3 chạy qua phần phía Đông của xã còn dòng sông Đu chảy qua khu vực trung tâm của xã theo chiều Bắc - Nam, một dòng suối chảy từ hai xã Phục Linh và Tân Linh đổ vào sông Đu tại cực nam của Phấn Mễ. Do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế làm cho nhu cầu đất đai dành cho đô thị hoá, phát triển công nghiệp dịch vụ, phát triển mạng lưới giao thông tăng nhanh. Vì vậy, quản lý và sử dụng sao cho hợp lý, tiết kiệm và 2 hiệu quả quỹ đất hiện có là việc làm quan trọng và cần thiết, nhất là trong các lĩnh vực như: chuyển quyền sử dụng đất, bảo lãnh, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất.
Để làm được điều đó thì việc làm trước tiên là phải hoàn thiện công tác đăng ký quyền sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đây là một việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn trong sự phát triển kinh tế - xã hội, bên cạnh đó nó còn giúp cho Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ diện tích đất đai của mình. Nhận thức được thực tiễn và tầm quan trọng của công tác điều tra đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất, xuất phát từ thực tế đó, với những kiến thức đã được học trong trường, được sự nhất trí của Ban giám hiệu Nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của Thầy giáo TS Nguyễn Thanh Hải, em đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2012 - 2014”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1.
Mục tiêu của đề tài - Phân tích những thuận lợi và khó khăn trong công tác và đề xuất giải pháp làm tăng tiến độ công tác cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Phấn Mễ, Huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu của đề tài - Nắm vững và thực hiện những quy định trong Luật Đất đai 2013, các văn bản dưới luật về công tác cấp GCNQSD đất, các văn bản của ngành và của tỉnh Thái Nguyên về công tác cấp GCNQSD đất. Các số liệu phản ánh trung thực, khách quan về tình trạng cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn của xã Phấn Mễ trong công tác cấp GCNQSD đất.
- Các số liệu phản ánh trung thực, khách quan về tình trạng cấp GCNQSD đất trên địa bàn xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. - Các giải pháp đưa ra phải rõ ràng, có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn của địa phương và Pháp luật. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Có cơ hội học hỏi và rút ra được nhiều kiến thức thực tế, nhất là trong công tác cấp GCNQSD đất, giúp sinh viên củng cố những kiến thức đã học trong Nhà trường và bước đầu áp dụng vào thực tiễn phục vụ yêu cầu công việc sau khi ra trường.
- Nắm vững những quy định của Luật đất đai năm 2013 và những văn bản dưới luật về đất đai của trung ương và ở địa phương trong công tác CGCNQSD đất. Ý nghĩa trong thực tiễn - Đưa ra các kiến nghị và đề xuất với các cấp có thẩm quyền để đề ra những giải pháp phù hợp để công tác cấp GCNQSD đất nói riêng và công tác quản lý nhà nước về đất đai nói chung được tốt hơn. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở lí luận Trong quá trình phát triển của xã hội loài người sự hình thành của một nền văn minh vật chất – văn hoá tinh thần, các thành tựu khoa học kỹ thuật đều được xây dựng trên nền tảng cơ bản là sử dụng đất. Ngày nay kinh tế xã hội ngày càng phát triển cùng với sự bùng nổ dân số thì nhu cầu sử dụng đất của con người ngày càng gia tăng đa dạng và phức tạp. Vì vậy để sử dụng đất đai một cách khoa học, tiết kiệm mang lại hiệu quả cao nhất thì Nhà nước phải có một chế độ chính sách về đất đai mang tính pháp lý, song phải hợp lý và chặt chẽ nhằm quản lý toàn bộ quỹ đất. Ở Việt Nam đối tượng của quản lý đất đai là toàn bộ diện tích các loại đất trong phạm vi ranh giới hành chính các cấp.
Thực chất của việc quản lý Nhà nước về đất đai là công tác quản lý sao cho đúng quy định của Luật Đất đai. Nhà nước quản lý đất đai thông qua các văn bản pháp luật, Nhà nước giao cho Uỷ ban nhân dân các cấp phải thực hiện việc quản lý đất đai trên toàn bộ ranh giới hành chính đối với tất cả các loại đất theo quy định của pháp luật. Để công tác quản lý cũng như vấn đề sử dụng đất đai mang lại hiệu quả cao nhất tại chương 2 Điều 22 (Luật đất đai, năm 2013) [1] đã đề ra 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai như sau: 1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện văn bản đó.
Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng giá đất. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Thống kê, kiểm kê đất đai. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
Quản lý tài chính về đất đai và giá đất. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai. Thông qua 15 nội dung quản lý Nhà nước về đất đai thì nội dung công tác đăng ký cấp GCNQSD đất là cơ sở để xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa nhà nước và người sử dụng đất. Đây là cơ sở để nhà nước bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sử dụng đất.
Mặt khác cũng thông qua hoạt động này mà Nhà nước thực hiện quyền giám sát tình hình sử dụng đất đai của các chủ sử dụng theo đúng quy định của pháp luật. Đảm bảo cho việc sử dụng đất của các chủ sử dụng trên từng thửa đất tuân thủ theo đúng nề nếp kỷ cương pháp luật, tạo điều kiện để nhà nước quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật. Điều mà chúng ta có thể thấy trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, thì hoạt động đăng ký cấp GCNQSD đất có một vai trò hết sức quan 6 trọng và đây là một trong những hoạt động nắm chắc tình hình về đất đai. Chính vì vậy thông qua hoạt động này chúng ta sẽ xác định và biết được thông tin của từng thửa đất và là cơ sở để quản lý các thông tin về đất đai trong hệ thống hồ sơ địa chính với đầy đủ các thông tin tự nhiên, kinh tế – xã hội, tình trạng pháp lý của từng thửa đất.
Hệ thống các thông tin đó chính là sản phẩm kế thừa từ việc thực hiện các nội dung, nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai. Đồng thời đây cũng là nội dung tiền đề và hướng tới hoàn thiện các nội dung quản lý Nhà nước về đất đai khác như: Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất, điều tra đo đạc, khảo sát, phân hạng, định giá đất, giải quyết khiếu nại tố cáo về đất đai… Thông qua nội dung này quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất được đảm bảo. Muốn nắm chắc được tình hình sử dụng, số lượng, chất lượng của toàn bộ quỹ đất thì chúng ta phải làm tốt công tác đăng ký cấp GCNQSD đất từ cấp Trung ương đến cấp cơ sở 2.