PHẦN MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…Vì thế đất đai có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng của mỗi quốc gia. Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội là sự gia tăng dân số đã gây ra một sức ép lớn về nhu cầu sử dụng đất, chính vì vậy việc quản lý và sử dụng đất đai đã được quy định rất chặt chẽ trong các văn bản pháp luật. Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi tắt là giấy chứng nhận) là để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất và cũng là cơ sở đảm bảo chế độ quản lý Nhà nước về đất đai, đảm bảo sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và khoa học, đồng thời để có thể giải quyết nhanh chóng các mâu thuẫn, các trường hợp tranh chấp về đất đai, các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, đảm bảo tính công bằng cho tất cả mọi người, góp phần ổn định tình hình chính trị xã hội. Công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở để khẳng định mối quan hệ pháp lý giữa Nhà nước với nhân dân.
Người sử dụng đất khi được cấp giấy chứng nhận thì mới yên tâm đầu tư để sản xuất khai thác tiềm năng về đất đai một cách hợp lý có hiệu quả, đồng thời là một trong những điều kiện để thực hiện các quyền của người sử dụng đất về chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có giấy chứng nhận. Trong những năm qua, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, xã hội, với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, kéo theo đó đã nảy sinh những vấn đề phức tạp trong quản lý sử dụng đất, cấp phép xây dựng, mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở,. và dẫn đến nhiều biến động về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở. Tuy nhiên, trên thực tế tình hình kê khai đăng ký và cấp giấy chứng nhận đang gặp nhiều khó khăn, tiến độ thực hiện công tác 1 này còn chậm, chất lượng hồ sơ đăng ký để cấp giấy chứng nhận chưa cao, dẫn đến tỷ lệ cấp giấy chứng nhận còn thấp, việc lấn chiếm, mua bán, chuyển nhượng đất đai diễn ra không thông qua cơ quan đăng ký còn nhiều,.
Thấy được những khó khăn và tầm quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong vấn đề quản lý nhà nước về đất đai xuất phát từ cơ sở lý luận và tình hình thực tế tại địa phương, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất trên địa bàn huyện Bắc Bình tỉnh, Bình Thuận giai đoạn 2020 - 2022”. Mục tiêu nghiên cứu 2. Mục tiêu chung Đánh giá được tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, từ đó đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện Bắc Bình. Mục tiêu cụ thể - Nắm được điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến công tác cấp GCNQSDĐ.
- Đánh giá được tình hình và kết quả cấp GCNQSDĐ qua từng năm trong giai đoạn 2020 - 2022. - Đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện công tác cấp GCNQSDĐ trên địa bàn huyện Bắc Bình trong thời gian tới. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quản lý nhà nước về đất đai 1.
Khái niệm Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, đó là các hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân phối, phân phối lại theo quy hoạch, kế hoạch khi kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng đất đai. Đồng thời dựa vào các quy định pháp luật đất đai và các văn bản pháp luật liên quan, Nhà nước thanh tra, xử lý các vụ tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo về các vấn đề nảy sinh trong quan hệ đất đai. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định tại Điều 53: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”; Khoản 1, Điều 54 “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”. Luật đất đai năm 2013 cũng quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là chủ sở hữu và Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai”.
Điều này đã khẳng định tính chất quan trọng của đất đai, đồng thời đây là cơ sở pháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý và sử dụng đất đúng đối tượng, đúng mục đích và có hiệu quả. Điều 22, Luật đất đai năm 2013 bao gồm: (1) Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó, (2) Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính, (3) Khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất, (4) Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, (5) Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, (6) Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi; (7) Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu 3 nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; (8)Thống kê, kiểm kê đất đai, (9) Xây dựng hệ thống thông tin đất đai; (10) Quản lý tài chính về đất đai và giá đất; (11) Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, (12) Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai; (13) Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai; (14) Giải quyết tranh chấp về đất đai giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý và sử dụng đất đai và (15) Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai. Đối tượng, mục đích, yêu cầu của quản lý Nhà nước về đất đai Đối tượng của quản lý nhà nước về đất đai gồm 2 nhóm - Các chủ thể quản lý đất đai và sử dụng đất đai. Quản lý nhà nước về đất đai nhằm mục đích - Bảo vệ quyền sở hữu nhà nước đối với đất đai, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất.
- Đảm bảo sử dụng hợp lý quỹ đất đai của quốc gia - Tăng cường hiệu quả sử dụng đất - Bảo vệ đất, cải tạo đất, bảo vệ môi trường Yêu cầu của công tác quản lý đất đai là phải đăng ký, thống kê đất đầy đủ theo đúng quy định của pháp luật đất đai ở từng địa phương theo các cấp hành chính. Đăng ký đất đai Theo quy định tại khoản 15 Điều 3 Luật Đất đai 2013 thì đăng ký đất đai, nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính. Đăng ký đất đai gồm: Đăng ký ban đầu và đăng ký biến động. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi ích hợp 4 pháp của người sử dụng đất.
Theo Khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai 2013. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn dùng để xác định loại đất và cũng là một trong những thành phần thực hiện các quyền như thế chấp, tặng cho, chuyển nhượng… 1. Cơ sở thực tiễn 1. Tình hình thực hiện đăng ký cấp giấy chứng nhận trên cả nước Theo Tổng cục Quản lý đất đai cho biết, tính đến năm 2022, tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) lần đầu trên cả nước đã đạt trên 96,9% tổng diện tích các loại đất cần cấp.
Trong số đó, đất sản xuất nông nghiệp đạt 92,9%; đất lâm nghiệp đạt 98,2%, đất nuôi trồng thủy sản đạt 86,1%; đất ở nông thôn đạt 96,1%; đất ở đô thị đạt 98,3%; đất chuyên dùng đạt 86,9%; cơ sở tôn giáo đạt 83,6%. Ngoài ra, Tổng cục Quản lý đất đai cũng đã tổng hợp các trường hợp còn tồn đọng chưa được cấp giấy chứng nhận lần đầu và phân tích nguyên nhân vướng mắc, để đề xuất giải pháp thực hiện, hoàn thành cấp giấy chứng nhận trên phạm vi cả nước. Theo đó, việc tồn đọng chưa được cấp giấy chứng nhận lần đầu, chủ yếu là do người dân chưa kê khai đăng ký chiếm 34,1%; nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 1.2008 trở về sau, đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất chiếm 10,7%; phải thực hiện nghĩa vụ tài chính nhưng không nộp và không có nhu cầu ghi nợ chiếm 5,4%; hồ sơ chưa hoàn thành thủ tục chia thừa kế chiếm 5,2%;. Được biết, đến nay đã có 132/713 đơn vị cấp huyện xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu địa chính chiếm 18,5% trên tổng số huyện-đây là nền tảng quan trọng để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thống nhất, phục vụ đa mục tiêu và vận hành Chính phủ điện tử.