phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, cấu trúc luận văn gồm 3 chương: 5 z Chƣơng 1. Một số chính sách về giải phóng mặt bằng liên quan đến Dự án xây dựng ĐHQGHN tại Hòa Lạc 1. Khái niệm chung giải phóng mặt bằng 1. Một số chính sách về công tác giải phóng mặt bằng của Nhà nước 1.
Một số chính sách về công tác giải phóng mặt bằng đối với đất thuộc Nông trường 1A cũ 1. Một số chính sách đặc thù về công tác giải phóng mặt bằng của Dự án xây dựng ĐHQGHN tại Hòa Lạc 1. Quy trình giải phóng mặt bằng của Dự án xây dựng ĐHQGHN tại Hòa Lạc Chƣơng 2. Hiện trạng và những khó khăn vƣớng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng của Dự án xây dựng ĐHQGHN tại Hòa Lạc 2.
Khái quát về Dự án 2. Kết quả và hiện trạng công tác giải phóng mặt bằng. Những khó khăn vướng mắc trong công tác giải phóng mặt bằng của Dự án. Một số giải pháp đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng củaDự án xây dựng ĐHQGHN tại Hòa Lạc 3.
Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 3. Nhóm giải pháp về sự phối hợp giữa các đơn vị chức năng liên quan 3. Nhóm giải pháp khác Kết luận - kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục 6 z Chƣơng 1 MỘT SỐ CHÍNH SÁCH VỀ GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG LIÊN QUAN ĐẾNDỰ ÁN XÂY DỰNG ĐHQGHN TẠI HÕA LẠC 1. Khái niệm chung về giải phóng mặt bằng Ở những quốc gia càng phát triển thì tỷ lệ đất chuyên dụng ngày càng cao và tỷ lệ đất nông nghiệp ngày càng thấp [32].
Vấn đề đặt ra là Nhà nước cần có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất khoa học, phù hợp, đồng thời cần có những chính sách quy định vừa đảm bảo quyền lợi chung của xã hội lại vừa đảm bảo được quyền lợi hợp pháp của người có đất bị Nhànước thu hồi để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế, xã hội đất nước [33]. Việt Nam, với đặc thù là một nước nông nghiệp (gần 80% dân số sản xuất nông nghiệp) cho nên khi bước vào thời kỳ phát triển nền kinh tế hàng hóa, đổi mới về mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, tất yếu sẽ triển khai xây dựng các công trình như các khu đô thị mới, hệ thống giao thông, các khu công nghiệp, dịch vụ thương mại, công trình quốc phòng an ninh,. thì phần lớn diện tích đất phục vụ cho các công trình này sẽ liên quan đến đất nông nghiệp, đất làm nhà ở tại khu vực nông thôn và ven đô thị. Nếu Nhà nước không có chính sách và những quy định phù hợp dễ dẫn đến tình trạng là sau mỗi lần Nhà nước thu hồi đất sẽ có thêm nhiều hộ gia đình, cá nhân lâm vào tình trạng không có ruộng đất - tư liệu sản xuất để nuôi sống gia đình và bản thân họ.
Thực tếtrong thời gian qua cho thấy công tác giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp, có tác động tới mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội, nhân văn của nhiều người, của cả cộng đồng dân cư. Giải quyết không tốt không thỏa đáng quyền lợi của người có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng thì rất dễ làm bùng phát những khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông người làm cho tình hình trở nên phức tạp, từ đó gây ra sự mất ổn định về kinh tế, xã hội, chính trị nói chung. Vì vậy, việc bồi thường, giải phóng mặt bằng để thực hiện các dự án phải giải quyết dung hòa mâu thuẫn về lợi ích giữa hai nhóm đối tượng: 7 z - Người được giao đất (trong đó có cả cơ quan Nhà nước) luôn tìm cách giảm chi phí bồi thường giải phóng mặt bằng nhằm hạ giá thành xây dựng, tiết kiệm chi phí sản xuất. - Người bị thu hồi đất luôn đòi hỏi được trả khoản bồi thường càng nhiều càng tốt mà trước hết phải là thỏa đáng, mặt khác trong nội bộ những người được đền bù có người chấp hành tốt chính sách pháp Luật Đất đai của Nhà nước có người chấp hành chưa tốt, do đó đòi hỏi phải xử lý sao cho công bằng cũng là một việc hết sức khó khăn.
Giải phóng mặt bằng là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cư trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới. Như vậy, giải phóng mặt bằng là vấn đề vừa mang tính thời vụ vừa mang tính cấp bách liên quan đến sự phát triển củaĐất nước. Trong những năm gần đây vấn đề giải phóng mặt bằng ngày càng trở thành trung tâm của dư luận, là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, nhà đầu tư. Thực tiễn chứng minh rằng làm tốt công tác giải phóng mặt bằng không chỉ tạo được môi trường thông thoáng cho phát triển, thu hút được nhà đầu tư mà còn góp phần làm lành mạnh nhiều mối quan hệ xã hội, củng cố được lòng tin của nhân dân, khắc phục tệ quan liêu, chống tham nhũng.
Một số chính sách về công tác giải phóng mặt bằng của Nhà nƣớc Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, giữ vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và sự ổn định đời sống của người dân. Trong quá trình phát triển đất nước, việc thu hồi đất để phục vụ cho lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế - xã hội là một quá trình tất yếu, tác động rất lớn đến người bị thu hồi đất. Để bù đắp cho họ một phần thiệt thòi đó, Nhà nước ta đã ban hành chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dành cho người bị thu hồi đất, từng bước hoàn thiện theo hướng tạo điều kiện ngày càng tốt hơn cho người có đất bị thu hồi ổn định đời sống và sản xuất. Những chính sách lớn của Nhà nước về quản lý đất đai và thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư có thể chia thành các giai đoạn sau: 8 z 1.
Giai đoạn trước khi cóLuật Đất đai năm 2003 Hiến pháp năm 1992 [27] đã đặt nền móng cho việc xây dựng chínhsáchbồi thường, hỗ trợ và tái định cư thể hiện qua những quy định: "Đất đai thuộc sở hữu toàn dân” (Điều 17), "Nhà nước giao đất cho các tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài,… tổ chức, cá nhân được chuyển quyền sử dụng đất được Nhà nước giao theo quy định của pháp luật” (Điều 18), "Trường hợp thật cần thiết vì lí do quốc phòng, an ninh, vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường” (Điều 23). Luật Đất đai qua các thời kỳđã cụ thể các quy định được ghi trong Hiến pháp: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất”, quy định quyền lợi của người sử dụng đất “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đất đang sử dụng của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, thì người bị thu hồi đất được đền bù thiệt hại”, "Được Nhà nước bảo vệ khi bị người khác xâm phạm đến quyền sử dụng đất hợp pháp của mình, được bồi thường thiệt hại về đất khi bị thu hồi" [28]. Luật cũng quy định trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước như “Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó. Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại” [30], quy định nghĩa vụ của người sử dụng đất phải đền bù cho người có đất bị thu hồi để giao cho mình [31].
Chính phủ quy định khung giá các loại đất cho từng vùng, theo từng thời gian và nguyên tắc, phương pháp xác định giá của các loại đất. Căn cứ vào quyết định của Chính phủ về khung giá và nguyên tắc, phương pháp xác định giá các loại đất, uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định giá các loại đất phù hợp với tình hình thực tế tại địa phương để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất, tiền thuê đất, lệ 9 z phí trước bạ, tính giá trị tài sản khi giao đất, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất [13-17]. Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi đấtđang sử dụng của người dân để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng thì người bị thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, việc bồi thường hoặc hỗ trợ được thực hiện theo quy định của Nhà nước. Nhà nước có chính sách để ổn định đời sống cho người có đất bị thu hồi.
Trong trường hợp người bị thu hồi đất phải di chuyển chỗ ở thì được mua nhà ở của Nhà nước hoặc được giao đất có thu tiền sử dụng đất để làm nhà ở [28]. Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến khi có Luật Đất đai năm 2013 Sau khi Luật Đất đai 2003 được ban hành, Nhà nước đã ban hành nhiều các văn bản dưới luật như Nghị định, Thông tư cụ thể hoá các điều của Luật về chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được thể chế tại Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 [13] của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là văn bản quy phạm quan trọng để áp dụng cho công tác bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất cho các địa phương áp dụng, với những nội dung chủ yếu sau: + Người bị thu hồi đất, bị thiệt hại tài sản gắn liền với đất bị thu hồi, được bồi thường đất, tài sản, được hỗ trợ và bố trí tái định cư theo quy định. Mặt khác Nhà nước khuyến khích người có đất, tài sản tự nguyện hiến, tặng một phần hoặc toàn bộ đất, tài sản cho Nhà nước.