phần Mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn có cấu trúc 3 chƣơng nhƣ sau:Chƣơng 1 tổng quan tài liệu vềvấn đề nghiên cứu, bao gồm các nội dung: cơ sở lý luận và pháp lý về chính sách giao đất giao rừng; thực tiễn công tác giao đất giao rừng (GĐGR) ở Việt Nam và tỉnh Lai Châu; Các nghiên cứu 3 liên quan đến đề tài; tổng quan về khu vực nghiên cứu.Chƣơng 2 mô tả đối tƣợng, phạm vi, nội dung và phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 3 tập trung phân tích các kết quả nghiên cứu chính của đề tài nhƣ (1) Kết quả thực hiện chính sách giao đất, giao rừng trên địa bàn huyện Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu; (2) Đánh giá tác động của chính sách giao đất, giao rừng tại huyện Nậm Nhùn; (3) Các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình thực hiện chính sách giao đất, giao rừng tại huyện Nậm Nhùn; (4) các giải pháp thực hiện nâng cao hiệu quả và hoàn thiện chính sách giao đất, giao rừng tại huyện Nậm Nhùn. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận vềchính sách giao đất giao rừng 1.
Khái quát chung về chính sách giao đất, giao rừng ở Việt Nam GĐGR đƣợc thực hiện từ đầu những năm 1980 với mục đích ngăn chặn nạn phá rừng, đồng thời thực hiện trồng rừng, nâng cao độ che phủ, tăng chất lƣợng đa dạng sinh học, làm giàu nguồn gen cây rừng và cải thiện môi trƣờng sinh thái. Đến năm 1983, Ban Bí thƣ đã có Chỉ thị 29-CT/TW ngày 12/11/1983 về việc đẩy mạnh triển khai GĐGR với chủ trƣơng làm cho mỗi khu đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có ngƣời làm chủ. Thực tế, trong những năm qua, Đảng và Nhà nƣớc đã thực hiện nhiều chính sách và đạt đƣợc một số kết quả nhất định trong lĩnh vực GĐGR, đặc biệt đối với rừng sản xuất. Trƣớc năm 1986, Nhà nƣớc đã có chủ trƣơng GĐGR cho hợp tác xã và nhân dân phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, nhất là khi các Quyết định của Hội đồng Bộ trƣởng đƣợc ban hành thì công tác GĐGR càng đƣợc đẩy mạnh.
Tuy nhiên, các chính sách thời điểm đó còn mang nặng tính bao cấp, thực thi theo kế hoạch và chỉ tiêu đƣợc giao, chủ yếu tập trung GĐGR cho các tổ chức Nhà nƣớc. Kết quả, diện tích che phủ rừng tiếp tục suy giảm, chỉ đạt khoảng 28% trong giai đoạn 1976 - 1985 [9]. Sau năm 1986, bƣớc vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Nhà nƣớc GĐGR cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ, chăm sóc, nuôi trồng, khai thác và tận dụng sản phẩm của rừng, tạo điều kiện cho dân cƣ ở vùng có rừng, đất rừng sinh sống và làm giàu bằng kinh doanh tổng hợp các thế mạnh của rừng.Chính sách GĐGR đƣợc thực hiện với mục đích tiếp tục triển khai các biện pháp bảo vệ hiệu quả diện tích rừng hiện có và phát huy sử dụng tối đa lợi thế của rừng, tiềm năng lao động của địa phƣơng; bảo vệ rừng gắn với phát triển bền vững tài nguyên rừng… Điều này đồng nghĩa với việc phải tăng cƣờng công tác xã hội hóa bảo vệ và phát triển rừng 5 Đối tƣợng đƣợc giao đất, giao rừng là các cơ quan quản lý của Nhà nƣớc, các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cƣ thôn trong nƣớc có liên quan đến việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng [1] với hai hình thức có thu tiền và không thu tiền sử dụng rừng.
- Giao rừng không thu tiền sử dụng rừng: Nhà nƣớc giao rừng không thu tiền sử dụng rừng trong các trƣờng hợp sau: Giao rừng đặc dụng gồm vƣờn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo vệ cảnh quan và khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học cho các Ban quản lý rừng đặc dụng, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đào tạo, dạy nghề về lâm nghiệp để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng [1]. Giao rừng phòng hộ tập trung cho các Ban quản lý rừng phòng hộ; giao rừng phòng hộ xen kẽ trong rừng sản xuất cho tổ chức kinh tế, giao rừng phòng hộ phân tán cho cộng đồng dân cƣ thôn, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trên địa bàn cấp xã nơi có rừng; giao rừng phòng hộ biên giới cho lực lƣợng vũ trang để trực tiếp quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Rừng sản xuất đƣợc giao cho cộng đồng dân cƣ thôn, hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống trên địa bàn cấp xã nơi có rừng để trực tiếp sản xuất lâm nghiệp; tổ chức kinh tế sản xuất giống cây rừng; đơn vị kinh tế - quốc phòng - an ninh thuộc lực lƣợng vũ trang nhân dân; Ban quản lý rừng đặc dụng, Ban quản lý rừng phòng hộ trong trƣờng hợp rừng sản xuất xen kẽ trong rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã giao cho Ban quản lý. - Giao rừng có thu tiền sử dụng rừng: Nhà nƣớc giao rừng sản xuất là rừng tự nhiên, rừng sản xuất là rừng trồng có thu tiền sử dụng rừng cho các tổ chức kinh tế [1].
Việc giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng thực hiện theo quy định tại Điều 22 Luật Bảo vệ và phát triển rừng; Không giao, cho thuê những diện tích rừng đang có tranh chấp; Việc giao, cho thuê rừng, thu hồi rừng phải có sự tham gia của ngƣời dân địa phƣơng và công bố công khai. Quy định giao đất giao rừng đối với các loại rừng ở Việt Nam Căn cứ vào mục đích sử dụng, rừng đƣợc chia thành 3 loại gồm rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất để thuận lợi cho công tác QLNN. Rừng đặc dụng Rừng đặc dụng là rừng đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trƣờng. Rừng đặc dụng bao gồm: Vƣờn quốc gia; khu bảo tồn thiên nhiên (gồm hai loại là khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh); Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh; Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.
Đất rừng đặc dụng đƣợc giao cho các tổ chức là các Ban quản lý rừng để quản lý, bảo vệ theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt, đƣợc kết hợp sử dụng đất vào mục đích khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; Tổ chức quản lý rừng đặc dụng giao khoán ngắn hạn đất rừng đặc dụng trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt cho hộ gia đình, cá nhân chƣa có điều kiện chuyển ra khỏi khu vực đó để bảo vệ rừng; Tổ chức quản lý rừng đặc dụng giao khoán đất rừng đặc dụng thuộc phân khu phục hồi sinh thái cho hộ gia đình, cá nhân sinh sống ổn định tại khu vực đó để bảo vệ và phát triển rừng. Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất vùng đệm của rừng đặc dụng đối với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về lâm nghiệp hoặc kết hợp quốc phòng, an ninh theo quy hoạch phát triển rừng của vùng đệm và đƣợc kết hợp sử dụng đất vào mục đích khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng đặc dụng thuộc khu vực đƣợc kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trƣờng dƣới tán rừng. 7 Giao rừng phòng hộ Rừng phòng hộ là rừng đƣợc sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nƣớc, bảo vệ đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hoà khí hậu, góp phần bảo vệ môi trƣờng. Rừng phòng hộ bao gồm: Rừng phòng hộ đầu nguồn; Rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; Rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển; Rừng phòng hộ bảo vệ môi trƣờng.
Nhà nƣớc giao đất rừng phòng hộ cho tổ chức quản lý rừng phòng hộ để quản lý, bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh rừng và trồng rừng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt, đƣợc kết hợp sử dụng đất vào mục đích khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Tổ chức quản lý rừng phòng hộ giao khoán đất rừng phòng hộ cho hộ gia đình, cá nhân đang sinh sống tại đó để bảo vệ, phát triển rừng; Ủy ban nhân dân cấp huyện giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân đó sử dụng. Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu, khả năng bảo vệ, phát triển rừng và đang sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ mà chƣa có tổ chức quản lý và khu vực quy hoạch trồng rừng phòng hộ thì đƣợc Nhà nƣớc giao đất rừng phòng hộ để bảo vệ, phát triển rừng và đƣợc kết hợp sử dụng đất vào mục đích khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng phòng hộ thuộc khu vực đƣợc kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trƣờng dƣới tán rừng; Cộng đồng dân cƣ đƣợc Nhà nƣớc giao rừng phòng hộ theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng thì đƣợc giao đất rừng phòng hộ để bảo vệ, phát triển rừng; có quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật bảo vệ và phát triển rừng.
Rừng phòng hộ Hình 1. Rừng sản xuất Rừng sản xuất - Rừng sản xuất là rừngđể sản xuất, kinh doanh gỗ, các lâm sản khác, đặc sản rừng, động vật rừng và kết hợp với phòng hộ, bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Rừng sản xuất bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng. Theo Luật Đất đai năm 2013, chế độ sử dụng đất rừng nhƣ sau: + Đất rừng sản xuất: đƣợc sử dụng chủ yếu - Nhà nƣớc giao đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên cho tổ chức quản lý rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
- Nhà nƣớc giao đất, cho thuê đất rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định sau đây: Giao đất cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo hạn mức quy địn tại điểm b khoản 3 Điều 129 để sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp.