Đặt vấn đề Dân số khỏe mạnh là yếu tố cần thiết cho phát triển kinh tế, xã hội. Dân số khỏe mạnh nâng cao chất lượng sống, tăng năng suất lao động của lực lượng lao động, tạo điều kiện tốt cho giáo dục, tăng sức mạnh cộng đồng, giảm đói nghèo cũng như các rào cản xã hội (WHO, 2000). Tuy nhiên, đánh giá sức khỏe của dân số không thể chỉ đơn thuần dựa trên các kết quả về sức khỏe, những sáng kiến và chất lượng chăm sóc sức khỏe mà còn phải căn cứ vào mức độ công bằng trong phân bố sức khỏe trong xã hội. Công bằng ngang trong việc sử dụng chăm sóc sức khỏe được định nghĩa là “những người có nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngang nhau thì sẽ được chăm sóc ngang nhau, không phân biệt các đặc điểm khác như thu nhập, chủng tộc, nơi cư trú” (Wagstaff A, van Doorslaer E và Paci P,1991).
Công bằng trong y tế và tiếp cận công bằng tới chăm sóc sức khỏe là mục tiêu chính trong hầu hết các chính sách y tế. Vậy hiểu biết về các nguyên nhân của sự bất bình đẳng trong sử dụng và chăm sóc sức khỏe là một điều kiện tiên quyết: “Đối với thiết kế các chính sách phù hợp” (Lairson et al. Trong khi Whitehead (1992) chỉ ra rằng: “Mục tiêu tiếp cận công bằng dựa trên nguyên tắc chăm sóc sức khỏe cần được cung cấp theo nhu cầu, chứ không phải dựa trên các yếu tố như là sự sẵn lòng chi trả”. Phương pháp thích hợp để đo sự không công bằng ngang (HI) trong việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần vào sự phát triển của chính sách công phù hợp cho các hệ thống chăm sóc sức khỏe.
Nghiên cứu về công bằng trong khả năng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế đã được nghiên cứu rất lâu trên thế giới và các nghiên cứu cho thấy nhu cầu sức khỏe của người dân không được giải quyết một cách công bằng ở nhiều nước phát triển và đang phát triển (Gundgaard J, 2006). Các bằng chứng cũng cho thấy rằng sau khi kiểm soát nhu cầu, phân phối chăm sóc sức khỏe có lợi cho người giàu rất nhiều vượt so phân phối chăm sóc sức khỏe cho người nghèo (Doorslaer, 2004). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 Hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam là một hệ thống hỗn hợp cung cấp dịch vụ công tư với phần lớn là khu vực công. Bên cạnh một số thành tựu thì chất lượng cung cấp dịch vụ y tế vẫn còn thiếu và kém cho người dân (JAHR, 2011, 2012).
Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam đã báo cáo một khoảng cách giữa người giàu và người nghèo về sử dụng chăm sóc sức khỏe trong các giai đoạn khác nhau (Tổng cục thống kê, 2004-2010). Một nghiên cứu khác cũng báo cáo rằng việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam thay đổi trong nhiều năm (Thoa NT và Lindholm L et al, 2013). Tuy nhiên có rất ít thông tin về mức độ không công bằng theo chiều ngang trong việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam (PAHE, 2011). Vì những lý do trên, tác giả chọn nghiên cứu “ĐO LƯỜNG CHỈ SỐ KHÔNG CÔNG BẰNG NGANG TRONG KHÁM CHỮA BỆNH NGOẠI TRÚ Ở VIỆT NAM”.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đo lường chỉ số không công bằng theo chiều ngang trong việc đi khám và chi phí khám chữa bệnh ngoại trú của người Việt Nam để từ đó đưa ra các gợi ý chính sách.Một số mục tiêu cụ thể : Xác định các yếu tố thuộc về nhu cầu và các yếu tố không phải nhu cầu có tác động đến việc đi khám và chi phí khám chữa bệnh ngoại trú của cá nhân.
Đo lường chỉ số bất bình đẳng và không công bằng theo chiều ngang trong số lần và chi phí khám chữa bệnh ngoại trú của cá nhân ở Việt Nam.2 Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện các mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài tập trung trả lời những câu hỏi sau: Số lần và chi phí khám chữa bệnh ngoại trú của cá nhân phụ thuộc vào những yếu tố nào? Mức độ bất bình đẳng và không công bằng theo chiều ngang trong số lần và chi phí khám chữa bệnh ngoại trú của cá nhân ở Việt Nam như thế nào? LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu việc chi phí khám chữa bệnh ngoại trú (bao gồm khu vực công lập và tư nhân) của người dân Việt Nam, sử dụng bộ dữ liệu khảo sát mức sống dân cư năm 2010 (VHLSS 2010) được thực hiện trên phạm vi cả nước. Đề tài tập trung phân tích các yếu tố thuộc về đặc tính cá nhân và các yếu tố kinh tế - xã hội có tác động đến việc khám chữa bệnh ngoại trú của một cá nhân.4 Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính sau: (i) Phương pháp thống kê: Tổng hợp, phân tích số liệu y tế và chăm sóc sức khỏe y tế ở các tỉnh thành trong cả nước qua bộ số liệu VHLSS 2010, Bộ y tế, Quỹ dân số Liên hiệp quốc tại Việt Nam (UNFPA) và nhóm Hợp tác Hành động vì Công bằng sức khỏe ở Việt Nam (PAHE). (ii)Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: đề tài sử dụng phương pháp hồi quy OLS để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí khám chữa bệnh ngoại trú, mô hình Poisson trong xác định các nhân tố ảnh hưởng đến số lần khám chữa bệnh ngoại trú và xác định nhân tố nào thuộc về nhu cầu, nhân tố nào không thuộc về nhu cầu.Từ kết quả hồi quy, uớc lượng các hệ số trong mô hình, kiểm định mức phù hợp và ý nghĩa thống kê của mô hình và uớc lượng chỉ số bất bình đẳng và chỉ số không công bằng về khám chữa bệnh sử dụng phương pháp được phát triển bởi van Doorslaer, Wagstaff (1991).5 Kết cấu đề tài Đề tài nghiên cứu gồm 6 chương như sau: Chương 2: Tổng quan cơ sở lý thuyết. Chương này trình bày tổng quan về các khái niệm và định nghĩa bất bình đẳng và không công bằng theo chiều ngang,phương pháp đo lường chỉ số không công bằng theo chiều ngang làm nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu.
Chương 3: Mô hình nghiên cứu. Chương này đề cập đến các biến sử dụng trong mô hình, quy trình xử lý, tinh lọc dữ liệu từ bộ VHLSS 2010 và đưa ra các bước để thực hiện nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 4: Thực trạng khám chữa bệnh ở Việt Nam.Chương này tập trung mô tả tổng quát thực trạng khám chữa bệnh ở Việt Nam theo một số đặc tính của cá nhân. Chương 5: Kết quả nghiên cứu.
Nội dung trình bày kết quả kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến việc chi phí khám chữa bệnh ngoại trú, giải thích và phân tích kết quả mô hình; tính chỉ số bất bình đẳng, phân tích chỉ số bất bình đẳng, làm cơ sở để tính chỉ số không công bằng theo chiều ngang trong chi phí khám chữa bệnh ngoại trú. Chương 6: Kết luận và kiến nghị. Phần này sẽ tóm lược những kết quả quan trọng của đề tài, từ đó kiến nghị một số chính sách nhằm đảm bảo công bằng trong chi phí khám chữa bệnh ngoại trú cho mọi người; đồng thời trình bày hạn chế của nghiên cứu và đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƯƠNG 2.
CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này trình bày tóm tắt các khái niệm và định nghĩa về công bằng sức khỏe và công bằng trong sử dụng dịch vụ y tế, phương pháp đo lường không công bằng trong sử dụng dịch vụ y tế được sử dụng phổ biến hiện nay. Sau cùng là tóm tắt một số nghiên cứu trước về đánh giá mức độ không công bằng trong sử dụng dịch vụ y tế.1 Một số khái niệm 2.1 Định nghĩa Nhu cầu chăm sóc sức khỏe Đo lường không công bằng theo chiều ngang gắn liền với khái niệm nhu cầu” trong suốt nghiên cứu. Về cơ bản, nhu cầu thường gắn với trạng tháibệnh tật – người càng ốm yếu thì càng cónhu cầu cao đối với chăm sóc sức khỏe.Culyer và Wagstaff (1993) cho rằng nhu cầu này nhắm đến một mức sức khỏe cao hơn trong tương lai bằng cách nhận được sự chăm sóc (dự phòng) trong hiện tại.Vì vậy Culyer và Wagstaffđịnh nghĩa nhu cầu chính là khả năng hưởng lợi của mỗi cá nhân từ sự chăm sóc sức khỏe.2 Định nghĩa công bằngvề sức khỏe, công bằng theo chiều ngang. Vẫn còn nhiều khái niệm công bằng sức khỏe mặc dù mối quan tâm đến công bằng sức khỏe đã có từ lâu trên thế giới.
Theo trường phái công bằng trong phân phối nguồn lực (Resource based Principles), công bằng sức khỏe được thể hiện dưới góc độ công bằng trong chăm sóc sức khỏe. Theo đó công bằng theo hai dạng là công bằng theo chiều ngang và công bằng theo chiều dọc: Công bằng theo chiều ngang nghĩa là những người có nhu cầu sức khỏe ngang nhau (giống nhau) thì sẽ được chăm sóc như nhau. Công bằng theo chiều dọc nghĩa là người có nhu cầu sức khỏe khác nhau sẽ nhận được sự chăm sóc khác nhau một cách hợp lý. Chăm sóc sức khỏe đạt được cân bằng khi phân bổ nguồn lực và khả năng tiếp cận nguồn lực được chia theo nhu cầu sức khỏe.
Do đó sự phân bổ nguồn lực LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 cho y tế, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế phải dựa trên nhu cầu chứ không phải phụ thuộc vào khả năng tài chính (PAHE,2011). Trong khi đó, trường phái công bằng phúc lợi cho rằng sức khỏe được thể hiện chính ở sự công bằng về tình trạng sức khỏe. Theo Whitehead (1990, 2000) không công bằng sức khỏe được thể hiện ở sự khác biệt sức khỏe mà những khác biệt này có thể phòng tránh được. Culyer và Wagstaff (1993) cho rằng công bằng sức khỏe bao gồm phân bổ nguồn lực theo nhu cầu, công bằng trong tiếp cận và sử dụng nguồn lực và công bằng về tình trạng sức khỏe.
Bảng tóm tắt các định nghĩa sau đây sẽ thấy sự thay đổi theo thời gian về quan niệm Công bằng sức khỏe. Một số định nghĩa nêu trong bảng tập trung vào 2 thành tố chính: công bằng y tế (phân bổ nguồn lực, chất lượng dịch vụ y tế, tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế theo nhu cầu) và công bằng về tình trạng sức khỏe .