Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh là trung tâm công nghiệp trọng điểm vùng Đông Bắc với sản lượng khai thác than năm 2010 đạt 12,9 triệu tấn, riêng khu vực Vàng Danh chiếm tới 3,85 triệu tấn. Sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp khai khoáng và nhiệt điện đã tạo áp lực xả thải nghiêm trọng lên lưu vực sông Vàng Danh có diện tích 149,07 km2. Nguồn tiếp nhận dòng chảy dài hơn 3 km này hiện phải chịu tải lượng nước thải trực tiếp từ các mỏ than lớn, hoạt động sản xuất nông nghiệp trên 100 km2 đất canh tác và nước thải sinh hoạt của hơn 110,8 nghìn dân cư đô thị.

Phương pháp đánh giá chất lượng nước truyền thống bằng cách so sánh từng thông số riêng lẻ với Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia QCVN 08:2008/BTNMT bộc lộ nhiều hạn chế, không phản ánh được diễn biến tổng thể theo không gian và thời gian. Đề tài tập trung nghiên cứu ứng dụng chỉ số chất lượng nước (Water Quality Index - WQI) nhằm chuẩn hóa dữ liệu quan trắc giai đoạn 2010 - 2013 trên địa bàn thành phố Uông Bí. Mục tiêu chính là lượng hóa mức độ ô nhiễm, xây dựng mô hình WQI đặc thù cho vùng khai thác than và đề xuất các giải pháp kỹ thuật, quản trị môi trường thích hợp.

Công trình mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc khi chuyển đổi chuỗi dữ liệu hóa lý phức tạp thành thang điểm 0 - 100 trực quan. Kết quả nghiên cứu cung cấp công cụ đắc lực hỗ trợ các nhà quản lý theo dõi sát sao sức chịu tải của dòng sông, bảo vệ nguồn nước cấp sinh hoạt và thúc đẩy kinh tế địa phương tăng trưởng bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết chỉ số chất lượng nước của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Hoa Kỳ (NSF - WQI), mô hình cải tiến HCM - WQI do nhóm tác giả Lê Trình công bố năm 2007 và Hướng dẫn kỹ thuật tính toán WQI theo Quyết định số 879/QĐ-TCMT năm 2011 của Tổng cục Môi trường. Khung phân tích vận dụng 5 khái niệm cốt lõi: Chỉ số chất lượng nước tổng hợp (WQI), Trọng số tương đối (wi), Chỉ số phụ (qi), Sức chịu tải của thủy vực và Ô nhiễm nguồn điểm kết hợp nguồn diện.

Để thích ứng tối đa với đặc thù khu vực khai thác khoáng sản, luận văn kế thừa mô hình HCM - WQI với 10 thông số nhưng thực hiện điều chỉnh kỹ thuật mang tính đột phá: thay thế chỉ tiêu độ đục bằng chỉ tiêu sắt (Fe) với trọng số wi = 0,12. Mô hình Vàng Danh - WQI mới này giúp phản ánh chính xác tác động của nước thải mỏ than lên môi trường nước mặt lục địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp giữa chuỗi số liệu hồi cứu 4 đợt mỗi năm từ 2010 đến 2012 của Trung tâm Quan trắc và Phân tích Môi trường tỉnh Quảng Ninh cùng số liệu thực nghiệm đo đạc định kỳ 3 tháng một lần trong Quý I và Quý II năm 2013. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm 70 lượt mẫu nước mặt được phân tích toàn diện 14 thông số hóa lý và vi sinh theo quy trình quy chuẩn nghiêm ngặt.

Phương pháp chọn mẫu dựa trên nguyên tắc mạng lưới đại diện không gian dòng chảy, phân bổ qua 5 vị trí trọng yếu: thượng nguồn Cầu Trắng (NM1) và Cầu Mới (NM2), trung nguồn Đập Tràn (NM3) và Đập Lán Tháp (NM4), hạ nguồn Cầu Treo Bắc Sơn (NM5). Phương pháp phân tích tích hợp hàm đa thức bậc 4 với hệ số tương quan R2 = 1 để nội suy chỉ số phụ qi của hàm lượng sắt, kết hợp thuật toán tính tổng trọng số NSF. Lựa chọn phân tích này giúp loại bỏ triệt để hiện tượng che khuất dữ liệu và xử lý bài toán biến động tải lượng ô nhiễm qua 4 năm nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mức độ phát thải từ các cơ sở công nghiệp than là nguồn gây ô nhiễm chủ đạo. Tổng lưu lượng nước thải mỏ đổ vào sông Vàng Danh vượt 36.400 m3/ngày đêm, trong đó mỏ Đồng Vông xả 14.400 m3/ngày đêm, mỏ Nam Mẫu xả 9.000 m3/ngày đêm và mỏ Vàng Danh xả 8.000 m3/ngày đêm. Hàm lượng sắt và chất rắn lơ lửng (TSS) tại thượng lưu thường xuyên vượt ngưỡng cho phép loại A1 của QCVN 08:2008/BTNMT.

Thứ hai, chỉ số WQI có sự phân hóa rõ rệt theo mùa. Do lượng mưa mùa hè chiếm tới 80% tổng lượng mưa 1.511,4 mm cả năm (đỉnh điểm tháng 8 đạt 307,4 mm), nước mưa chảy tràn qua diện tích 149,07 km2 bãi thải than làm chỉ số WQI vào mùa mưa sụt giảm từ 15% đến 25% so với mùa khô.

Thứ ba, mô hình Vàng Danh - WQI cho thấy chất lượng nước tại các điểm thượng nguồn NM1 và NM2 thường xuyên rơi vào thang điểm xấu (dưới 50 điểm), trong khi khu vực hạ lưu NM5 có xu hướng phục hồi lên mức trung bình (51 - 75 điểm) nhờ khả năng tự làm sạch tự nhiên và sự pha loãng lưu lượng dòng chảy.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm chất lượng nước sông là do hệ thống xử lý nước thải của một số đơn vị, điển hình như Công ty than Vietmindo (công suất 5.000 m3/ngày đêm), chưa vận hành triệt để trước năm 2012, kết hợp với tập quán xả nước thải sinh hoạt chưa qua xử lý tập trung từ các khu dân cư. So sánh với nghiên cứu trên sông Hậu của tác giả Tôn Thất Lãng năm 2008 vốn chủ yếu ô nhiễm hữu cơ và vi sinh, sông Vàng Danh chịu áp lực đặc thù từ ô nhiễm khoáng hóa, kim loại nặng và cặn lắng đất đá.

Các phát hiện thực nghiệm này có thể được mô hình hóa trực quan qua biểu đồ chuỗi thời gian 14 quý và bảng nhiệt ma trận phân vùng chất lượng nước. Cách trình bày dạng đồ thị đường thể hiện rõ sự đối lập giữa mùa mưa và mùa khô, đồng thời bảng phân loại màu sắc WQI giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt tức thì diễn biến môi trường tại từng phân đoạn sông.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cấp đồng bộ công nghệ xử lý nước thải mỏ than. Yêu cầu Công ty Than Vietmindo và Than Đồng Vông hoàn thiện hệ thống lắng lọc hóa lý đạt công suất thiết kế trên 14.400 m3/ngày đêm, bảo đảm 100% nước thải sau xử lý đạt cột A theo QCVN 40:2011/BTNMT trước quý IV năm 2024. Chủ thể thực hiện là Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và các công ty mỏ trực thuộc.

Thứ hai, thiết lập trạm quan trắc nước mặt tự động liên tục. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Ninh chủ trì lắp đặt 03 trạm quan trắc tự động tại điểm Cầu Trắng (NM1), Đập Tràn (NM3) và Cầu Treo Bắc Sơn (NM5) trong giai đoạn 2024 - 2025, truyền dữ liệu 24/7 về trung tâm điều hành nhằm giảm 40% thời gian ứng phó sự cố môi trường.

Thứ ba, đầu tư hạ tầng thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị. Ủy ban nhân dân thành phố Uông Bí làm chủ đầu tư xây dựng nhà máy xử lý nước thải tập trung công suất 10.000 m3/ngày đêm cho 2 phường Vàng Danh và Bắc Sơn, hoàn thành trước năm 2026 để cắt giảm tối thiểu 85% lượng vi sinh Coliform và BOD5 xả vào lưu vực.

Thứ tư, phục hồi sinh thái cảnh quan bờ sông và bãi thải. Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng Công ty TNHH MTV Môi trường - TKV trồng mới 50 ha rừng phòng hộ đầu nguồn tại xã Thượng Yên Công và gia cố 3 km kè đá sinh thái dọc sông Vàng Danh trước năm 2025, hướng tới mục tiêu giảm 50% lượng đất đá xói mòn trôi xuống lòng sông vào mùa lũ.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Cán bộ Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh và Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Uông Bí có thể sử dụng khung đánh giá Vàng Danh - WQI để giám sát 5 nguồn thải lớn, phục vụ cấp phép xả thải và quy hoạch lưu vực sông.

Nhóm doanh nghiệp khai thác và chế biến than: Lãnh đạo và kỹ sư môi trường tại 4 công ty than lớn trên địa bàn có tài liệu chuẩn xác để tối ưu hóa quy trình xử lý nước thải công nghiệp với tổng công suất hơn 36.400 m3/ngày đêm.

Nhóm nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Các viện nghiên cứu và trường đại học chuyên ngành môi trường có thể khai thác bộ dữ liệu 70 mẫu quan trắc cùng phương pháp luận hiệu chỉnh chỉ số phụ Fe làm tài liệu giảng dạy và mở rộng nghiên cứu sang các lưu vực khoáng sản khác.

Nhóm đơn vị khai thác, sản xuất nước sạch và quy hoạch cấp nước: Công ty Cổ phần Nước sạch Quảng Ninh có cơ sở khoa học để lựa chọn vị trí thu nước thô an toàn, xây dựng phương án dự phòng bảo đảm cấp nước sinh hoạt cho 110,8 nghìn người dân thành phố.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao luận văn lại xây dựng chỉ số Vàng Danh - WQI riêng thay vì áp dụng WQI thông thường của Tổng cục Môi trường? Mô hình chuẩn của Tổng cục Môi trường theo Quyết định 879/QĐ-TCMT chủ yếu đánh giá ô nhiễm hữu cơ đô thị. Do lưu vực sông Vàng Danh tiếp nhận hơn 36.400 m3 nước thải mỏ than mỗi ngày mang hàm lượng sắt cao, việc bổ sung thông số Fe với trọng số 0,12 giúp phản ánh chính xác 100% bản chất ô nhiễm công nghiệp khoáng sản.

Nguồn ô nhiễm nào gây suy giảm chất lượng nước sông Vàng Danh nghiêm trọng nhất? Nước thải công nghiệp từ hoạt động khai thác than của các mỏ Vàng Danh, Đồng Vông, Nam Mẫu và Vietmindo là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất. Bên cạnh đó, lượng mưa mùa hè chiếm 80% tổng lượng mưa năm (1.511,4 mm) cuốn theo đất đá từ bãi thải than làm tăng vọt nồng độ chất rắn lơ lửng và kim loại nặng trên diện rộng.

Chất lượng nước sông Vàng Danh có đủ điều kiện phục vụ cấp nước sinh hoạt không? Dữ liệu quan trắc 14 quý (2010 - 2013) cho thấy nước tại thượng nguồn NM1 và NM2 có WQI dưới 50 điểm, không đạt chuẩn A1 để cấp nước trực tiếp. Nguồn nước chỉ có thể sử dụng cho tưới tiêu nông nghiệp hoặc buộc phải qua hệ thống xử lý công nghệ cao loại bỏ triệt để sắt và cặn lơ lửng trước khi cấp cho sinh hoạt.

Phương pháp WQI đem lại lợi ích gì vượt trội so với việc so sánh từng chỉ tiêu đơn lẻ theo QCVN? Đánh giá theo quy chuẩn phân tán kết quả trên nhiều chỉ tiêu riêng biệt, gây khó khăn cho việc nhận định xu hướng tổng thể. Phương pháp WQI quy đổi toàn bộ dữ liệu thành thang điểm duy nhất từ 0 đến 100, giúp cơ quan quản lý dễ dàng so sánh chất lượng nước qua 5 trạm quan trắc và truyền thông minh bạch cho cộng đồng.

Yếu tố mùa vụ ảnh hưởng như thế nào đến diễn biến chất lượng nước sông? Lượng mưa tại Uông Bí phân bổ không đều với 80% tập trung từ tháng 4 đến tháng 9, đạt mức cao nhất vào tháng 8 với 307,4 mm. Mưa lớn gây xói mòn mạnh các vỉa than lộ thiên và bãi thải, làm tăng độ đục và kéo chỉ số WQI toàn lưu vực giảm từ 15% đến 25% so với mùa khô.

Kết luận

  • Luận văn chuẩn hóa thành công chuỗi dữ liệu 14 đợt quan trắc định kỳ giai đoạn 2010 - 2013 tại 5 điểm nút giao thông thủy văn trọng yếu trên sông Vàng Danh.
  • Đã thiết lập thành công mô hình Vàng Danh - WQI với 10 thông số đặc thù, tích hợp hàm nội suy phi tuyến tính bậc 4 cho chỉ tiêu sắt với độ chính xác R2 = 1.
  • Định lượng rõ nét bức tranh suy giảm môi trường do tác động từ hơn 36.400 m3 nước thải mỏ than mỗi ngày đêm và lượng mưa lũ 1.511,4 mm hàng năm.
  • Đề xuất lộ trình 4 giải pháp công nghệ, giám sát tự động và quản lý hành lang sông với mục tiêu kiểm soát 100% nguồn thải công nghiệp giai đoạn 2024 - 2026.
  • Tạo lập cơ sở dữ liệu khoa học vững chắc phục vụ công tác quy hoạch bảo vệ nguồn nước sinh hoạt cho hơn 110.800 người dân đô thị Uông Bí.

Bước tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần sớm đưa mô hình Vàng Danh - WQI vào hệ thống phần mềm cảnh báo sớm trực tuyến của thành phố trong năm 2024. Hãy khai thác ngay công trình nghiên cứu giá trị này để nâng cao hiệu lực quản lý tài nguyên nước và phát triển đô thị sinh thái bền vững!