Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nước là nguồn tài nguyên thiết yếu đối với sự tồn tại của con người và hệ sinh thái, đồng thời phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt hằng ngày. Mặc dù bao phủ khoảng 3/4 diện tích bề mặt Trái Đất, lượng nước ngọt có thể khai thác và sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt của con người lại rất hạn chế. Tại Việt Nam, khoảng 76% dân số tập trung sinh sống tại khu vực nông thôn, nơi hạ tầng kỹ thuật xử lý môi trường còn nhiều hạn chế, phần lớn chất thải sinh hoạt và chăn nuôi chưa được xử lý triệt để mà thải trực tiếp ra môi trường tự nhiên, gây áp lực lớn lên nguồn nước mặt và nước ngầm tầng nông.

Xã Tiên Hội thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên là một địa bàn thuần nông, cơ cấu kinh tế năm 2011 có ngành nông nghiệp chiếm tới 88%, trong đó cây lúa được xác định là trọng tâm và cây chè là mũi nhọn phát triển kinh tế. Nguồn nước phục vụ cho đời sống sinh hoạt của người dân trên địa bàn chủ yếu dựa vào hệ thống giếng đào và giếng khoan tự khai thác. Dù có dòng sông Công cùng hệ thống suối, hồ, vai đập chảy qua đóng vai trò thủy vực cung cấp nước, chất lượng môi trường nước tại xã đang đối mặt với nhiều nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng. Các nguyên nhân phát sinh ô nhiễm xuất phát từ việc lạm dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật trong thâm canh nông nghiệp (nhiều trường hợp người dân sử dụng gấp 3 lần liều lượng khuyến cáo, tồn tại tình trạng dùng các loại hóa chất đã bị cấm như Aldrin, Thiodol, Monitor và vứt bao bì bừa bãi), chất thải chăn nuôi gia súc chưa qua xử lý, rác thải và nước thải sinh hoạt xả thẳng ra kênh mương, cùng hoạt động sản xuất gạch thủ công trái phép. Xuất phát từ thực trạng trên, đề tài khóa luận "Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên" được sinh viên Nguyễn Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Lan tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên nhằm làm rõ hiện trạng ô nhiễm và đề xuất giải pháp kỹ thuật, quản lý phù hợp.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định theo 4 nội dung cụ thể:

  1. Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  2. Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  3. Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  4. Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thu thập số liệu, khảo sát thực địa và lấy mẫu phân tích trong thời gian từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài tập trung vào hệ thống các khái niệm chuyên ngành về môi trường và tài nguyên nước, bao gồm: nguồn nước (Water Resources), nước sạch (Clean Water), nước sạch cơ bản, nước sạch quy ước, nước sinh hoạt, nguồn nước sinh hoạt, cùng các hiện tượng ô nhiễm nguồn nước, suy thoái nguồn nước và cạn kiệt nguồn nước theo các tài liệu nghiên cứu của Dư Ngọc Thành (2012) và Vũ Quang (2006). Tác giả phân loại ô nhiễm nước theo ba bản chất chính: ô nhiễm vật lý (gia tăng chất rắn lơ lửng, độ đục, mùi vị, màu sắc), ô nhiễm hóa học (hợp chất hữu cơ, muối khoáng nitrat, phosphat từ phân bón nông nghiệp, kim loại hòa tan) và ô nhiễm sinh học (chất thải hữu cơ dễ lên men, vi sinh vật gây bệnh từ phân người và gia súc).

Về cơ sở pháp lý và tiêu chuẩn kỹ thuật, đề tài dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước và các bộ ngành:

  • Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13;
  • Luật Bảo vệ môi trường 2005 (đặc biệt là các điều 45, 46, 47, 48 quy định về bảo vệ tài nguyên nước trong hoạt động sản xuất);
  • Các Nghị định của Chính phủ: Nghị định số 201/2013/NĐ-CP, Nghị định số 142/2013/NĐ-CP, Nghị định số 117/2009/NĐ-CP, Nghị định số 112/2008/NĐ-CP, Nghị định số 149/2004/NĐ-CP, Nghị định số 162/2003/NĐ-CP;
  • Các Thông tư và Quyết định: Thông tư số 13/2014/TT-BTNMT, Thông tư số 19/2013/TT-BTNMT, Thông tư số 30/2011/TT-BTNMT, Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT, Quyết định số 15/2008/QĐ-BTNMT;
  • Hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia đối chiếu: QCVN 02:2009/BYT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt), QCVN 09:2008/BTNMT (Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ngầm), bên cạnh việc viện dẫn QCVN 01:2009/BYT, QCVN 08:2008/BTNMT, TCVN 6000:1995 (lấy mẫu nước ngầm) và TCVN 6096:2004.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được thực hiện phối hợp qua các bước:

  • Phương pháp thu thập và kế thừa tài liệu thứ cấp: Tiếp cận và xử lý có chọn lọc các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội năm 2013 của UBND xã Tiên Hội, Báo cáo Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã Tiên Hội giai đoạn 2012 - 2020, cùng các tư liệu từ sách báo và internet.
  • Phương pháp điều tra phỏng vấn xã hội học: Sử dụng bộ câu hỏi khảo sát soạn sẵn để tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại 60 hộ gia đình trên toàn xã, không phân biệt nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính và trình độ văn hóa, nhằm thu thập thông tin về loại hình nguồn nước sử dụng và đánh giá cảm quan của người dân.
  • Phương pháp khảo sát thực tế: Khảo sát hiện trường kết hợp quan sát bằng mắt thường và cảm quan để ghi nhận màu sắc, mùi vị của nguồn nước sinh hoạt tại các khu dân cư.
  • Phương pháp lấy mẫu và bảo quản mẫu: Quy trình lấy mẫu tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 6000:1995. Dụng cụ lấy mẫu là chai nhựa PE thể tích 1,5 lít được làm sạch bằng nước máy, tráng nước cất, cồn 90°, tráng lại nước cất và tráng bằng chính nguồn nước mẫu trước khi lấy. Đối với mẫu phân tích hóa học, bình chứa được ngâm axit clohydric hoặc axit nitric 1 mol/l trong một ngày rồi tráng nước cất. Mẫu được lấy bằng bơm vào buổi sáng, bảo quản trong túi bóng đen tránh ánh sáng và vận chuyển ngay về phòng thí nghiệm. Tác giả chia địa bàn xã thành 3 cụm có tính tương đồng địa lý, thủy văn để lấy 9 mẫu nước điển hình: Cụm Phố Điệp (các xóm Thắng Lợi, Đại Quyết, Phúc Lẩm, Đồng Chung), Cụm xóm Gò (các xóm Tiên Trường, Trung La, Đồng Mạc, Lập Mỹ), và Cụm Soi Chè (các xóm Phố Dầu, Bãi Cải, Soi Chè).
  • Phương pháp phân tích phòng thí nghiệm: Toàn bộ 9 mẫu nước được phân tích tại Phòng thí nghiệm Tài nguyên và Môi trường thuộc Khoa Môi trường, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên với 8 chỉ tiêu lý hóa: Mùi vị, Độ cứng, pH, DO, BOD, COD, Fe²⁺, Cl⁻.
  • Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Số liệu điều tra và kết quả thí nghiệm được xử lý, lập bảng biểu thống kê trên phần mềm máy tính (Word và Excel), sau đó đối chiếu, so sánh trực tiếp với các ngưỡng giới hạn quy định tại QCVN 02:2009/BYT và QCVN 09:2008/BTNMT.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của tài nguyên nước sạch đối với sức khỏe con người, chỉ ra thực trạng khan hiếm và ô nhiễm cục bộ nguồn nước tại các vùng nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Trên cơ sở đó, văn bản nêu rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu tại xã Tiên Hội, xác định hệ thống 4 mục tiêu nghiên cứu, 5 yêu cầu khoa học (đảm bảo tính trung thực, tính đại diện, độ chính xác phân tích và tính khả thi của giải pháp) cùng ý nghĩa học tập và thực tiễn của khóa luận tốt nghiệp.

Phần II: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng hợp cơ sở lý luận về nước và ô nhiễm môi trường nước. Tác giả phân tích cụ thể vai trò của nước đối với cơ thể sinh vật (nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể người, mất 5% gây hôn mê và mất 15-20% dẫn đến tử vong) và đối với các ngành kinh tế. Phần tổng quan hệ thống hóa các nguyên nhân ô nhiễm tự nhiên (lũ lụt, phân hủy xác sinh vật, đặc tính địa chất đất phèn, đất đá vôi) và nguyên nhân nhân tạo (nước thải sinh hoạt, lạm dụng phân hóa học, thuốc trừ sâu, nước thải công nghiệp). Văn bản cũng phân tích hiện trạng tài nguyên nước trên thế giới và tại Việt Nam, nêu rõ mục tiêu của Chiến lược quốc gia đến năm 2020 đạt 100% dân số nông thôn được cấp nước sạch tối thiểu 60 lít/người/ngày, đồng thời phân tích ưu nhược điểm của các loại hình cấp nước nông thôn (nước máy, nước giếng đào khai thác tầng 5-10m, nước giếng khoan khai thác tầng 40-60m hoặc sâu 250m, cùng các mô hình bể lọc gia đình, giàn phun mưa, bể lọc chậm).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Văn bản xác định cụ thể đối tượng, phạm vi không gian xã Tiên Hội và thời gian nghiên cứu (01/2014 - 04/2014). Tác giả chi tiết hóa 4 nội dung nghiên cứu chính và mô tả chi tiết 5 phương pháp triển khai: phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp; điều tra xã hội học với cỡ mẫu 60 hộ gia đình; khảo sát thực địa; phương pháp lấy mẫu, bảo quản 9 mẫu nước theo TCVN 6000:1995; và phương pháp thống kê, xử lý dữ liệu phòng thí nghiệm so sánh với QCVN 02:2009/BYT và QCVN 09:2008/BTNMT.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung chương 4 tập trung vào 4 nhóm kết quả chính:

  • Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội của xã Tiên Hội: Tổng diện tích tự nhiên là 1.095,40 ha (đất lâm nghiệp 119,15 ha chiếm 10,9%; đất chè 310,50 ha chiếm 28,3%; đất lúa 230,53 ha chiếm 21%). Cơ cấu kinh tế năm 2011: nông nghiệp 88%, tiểu thủ công nghiệp - xây dựng 5%, thương mại - dịch vụ 7%. Thu nhập bình quân đạt 16 triệu đồng/người/năm. Đàn trâu bò có 272 con, đàn lợn 1.826 con. Dân số năm 2013 có 6.362 người thuộc 1.678 hộ (tỷ lệ nghèo 10,01%). Xã có 1 trạm y tế đạt chuẩn quốc gia năm 2006; hệ thống giáo dục gồm 3 trường (mầm non 284 trẻ, tiểu học 409 học sinh, THCS 313 học sinh); hệ thống thủy lợi gồm 49,70 km kênh mương và 8 hồ chứa nước; toàn xã có 11 trạm biến áp cấp điện cho 100% thôn.
  • Hiện trạng nguồn cấp nước và kết quả phân tích chất lượng nước: Thống kê toàn xã năm 2013 cho thấy giếng đào là nguồn cấp chủ đạo với 1.269 cái (75,63%), giếng khoan có 195 cái (11,62%), nước cấp tập trung từ nhà máy nước trung tâm huyện có 200 hộ (11,92%), và bể chứa nước mưa chỉ có 14 cái (0,83%). Kết quả thử nghiệm 9 mẫu nước tại 3 cụm xóm cho thấy: pH dao động từ 6,48 đến 8,12 (nằm trong ngưỡng cho phép); không có mẫu nào xuất hiện mùi vị lạ; độ cứng dao động 69 - 420 mg/l (mẫu 4 tại xóm Trung La cao nhất đạt 420 mg/l nhưng vẫn nằm trong giới hạn QCVN 09:2008 là 500 mg/l); DO dao động 4,69 - 6,38 mg/l; BOD dao động 0,67 - 3,68 mg/l. Tuy nhiên, chỉ tiêu COD tại mẫu 1 (4,41 mg/l) và mẫu 3 (4,60 mg/l) vượt giới hạn quy định của QCVN 09:2008/BTNMT (4 mg/l), phản ánh tình trạng nhiễm chất hữu cơ do phân bón và nước thải ngấm vào tầng nông. Chỉ tiêu Clorua (Cl⁻) tại mẫu 7 (344 mg/l) và mẫu 8 (364 mg/l) thuộc nguồn nước cấp tập trung vượt ngưỡng QCVN 02:2009/BYT (300 mg/l) và QCVN 09:2008/BTNMT (250 mg/l) do dư lượng clo khử trùng. Chỉ tiêu Fe²⁺ phát hiện tại mẫu 3 (0,002 mg/l), mẫu 4 (0,005 mg/l), mẫu 5 (0,001 mg/l) nhưng đều nằm sâu dưới ngưỡng quy chuẩn.
  • Kết quả điều tra ý kiến cộng đồng: Khảo sát 60 hộ gia đình ghi nhận 40 hộ dùng giếng đào (66,67%), 13 hộ dùng giếng khoan (21,67%), 5 hộ dùng nước máy (8,33%) và 2 hộ phải đi mua nước do nước giếng bị đục, nhiều váng bọt (3,33%). Về mức độ ô nhiễm, 31 hộ (51,66%) đánh giá không ô nhiễm, 18 hộ (30%) cho rằng ô nhiễm trung bình, 7 hộ (11,67%) nhận xét ít ô nhiễm, và 4 hộ (6,67% tại xóm Phố Dầu và Bãi Cải) phản ánh nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, xuất hiện mùi tanh và cặn đục không thể sử dụng cho ăn uống.
  • Các nhóm giải pháp đề xuất: Tác giả đề xuất 5 nhóm giải pháp bao gồm: thông tin - giáo dục - truyền thông qua đài truyền thanh xã và trường học; giải pháp kinh tế huy động ngân sách lồng ghép và đóng góp ngày công lao động của người dân; giải pháp kỹ thuật - công nghệ cụ thể hóa quy cách xây dựng giếng đào (thành giếng cao tối thiểu 0,8m so với mặt đất, nền lát gạch bê tông có rãnh thoát nước, đáy rải sỏi cát vàng dày 0,2 - 0,4m) và giếng khoan; giải pháp chính sách - pháp luật; và tăng cường quản lý môi trường tại địa phương.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Văn bản tổng kết lại các phát hiện thực nghiệm về chất lượng nước sinh hoạt xã Tiên Hội, nhấn mạnh tính cấp bách của việc kiểm soát ô nhiễm hữu cơ tại nguồn nước giếng đào và tối ưu hóa quy trình clo hóa tại trạm cấp nước máy tập trung. Đồng thời, tác giả đưa ra các kiến nghị đối với chính quyền địa phương nhằm mở rộng mạng lưới nước sạch và tổ chức quản lý rác thải sinh hoạt, bảo vệ các thủy vực trên địa bàn.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực tế về hạ tầng cấp nước và chất lượng các nguồn nước sinh hoạt tại xã Tiên Hội năm 2013 - 2014. Dữ liệu khảo sát hiện trạng cấp nước toàn xã được tổng hợp như sau:

Loại hình cấp nước Số lượng (công trình/hộ) Tỷ lệ (%)
Giếng đào 1.269 75,63
Nước cấp tập trung 200 11,92
Giếng khoan 195 11,62
Bể chứa 14 0,83
Tổng cộng 1.678 100,00

Bộ số liệu phân tích lý hóa tại 9 điểm lấy mẫu đại diện trên địa bàn xã Tiên Hội được đối chiếu trực tiếp với hai quy chuẩn hiện hành:

Chỉ tiêu Mẫu 1 Mẫu 2 Mẫu 3 Mẫu 4 Mẫu 5 Mẫu 6 Mẫu 7 Mẫu 8 Mẫu 9 QCVN 02:2009/BYT QCVN 09:2008/BTNMT
Mùi vị Không Không Không Không Không Không Không Không Không - -
Độ cứng (mg/l) 110 69 160 420 86 208 90 90 104 350 500
pH 6,48 7,09 7,86 6,64 8,09 7,63 7,38 8,12 7,52 6,0 – 8,5 5,5 – 8,5
DO (mg/l) 5,34 5,10 5,25 4,69 6,04 5,84 6,38 5,29 4,84 - -
BOD (mg/l) 3,53 2,14 3,68 0,98 0,80 2,06 0,97 0,67 1,30 - -
COD (mg/l) 4,41 2,68 4,60 1,22 1,06 2,58 1,21 0,84 1,62 - 4,0
Cl⁻ (mg/l) 26,23 78,00 70,19 12,70 60,00 8,60 344,00 364,00 2,41 300 250
Fe²⁺ (mg/l) KPH KPH 0,002 0,005 0,001 KPH KPH KPH KPH 0,5 5,0

(Ghi chú: KPH: Không phát hiện; Mẫu 1: Đàm Văn Văn - Đại Quyết; Mẫu 2: Nghiêm Văn Vịnh - Đại Quyết; Mẫu 3: Phan Văn Báo - Phúc Lẩm; Mẫu 4: Trần Thị Lý - Trung La; Mẫu 5: Trần Văn Quân - Trung La; Mẫu 6: Nguyễn Văn Báu - Bãi Cải; Mẫu 7: Lý Thị Phương Thảo - Phố Dầu; Mẫu 8: Nguyễn Thị Loan - Phố Dầu; Mẫu 9: Nguyễn Thị Khuyến - Phố Dầu).

Về kết quả điều tra xã hội học đối với 60 hộ gia đình:

  • Tỷ lệ nguồn nước đang sử dụng thực tế: giếng đào chiếm 66,67% (40 hộ), giếng khoan chiếm 21,67% (13 hộ), nước máy chiếm 8,33% (5 hộ), và hình thức khác (mua nước sinh hoạt) chiếm 3,33% (2 hộ).
  • Đánh giá của người dân về mức độ ô nhiễm: 31 phiếu đánh giá không ô nhiễm (51,66%), 18 phiếu ô nhiễm trung bình (30,00%), 7 phiếu ít ô nhiễm (11,67%) và 4 phiếu khẳng định ô nhiễm trầm trọng (6,67%). Các hộ ô nhiễm nghiêm trọng tập trung tại xóm Phố Dầu và xóm Bãi Cải.

Đóng góp của khóa luận:

  • Cung cấp dẫn liệu thực tế chỉ ra hai vấn đề tồn tại của nguồn nước sinh hoạt tại địa phương: hiện tượng ô nhiễm chất hữu cơ tầng nông tại các giếng đào (thể hiện qua hàm lượng COD vượt ngưỡng ở mẫu 1 và mẫu 3) và vấn đề tồn dư chất khử trùng Clorua vượt tiêu chuẩn tại hệ thống nước máy cấp tập trung (mẫu 7 và mẫu 8).
  • Đề xuất các thông số kỹ thuật chuẩn hóa để nâng cấp giếng đào nông thôn: yêu cầu xây thành giếng cao tối thiểu 0,8m bằng gạch hoặc ống bê tông đúc sẵn, đổ bê tông nền giếng kết hợp rãnh thoát nước bẩn ra xa, rải lớp vật liệu lọc sỏi hoặc cát vàng dày 0,2 - 0,4m ở đáy giếng; đồng thời đề xuất ứng dụng mô hình giàn phun mưa, bể lọc chậm và bể lọc hộ gia đình để tách bỏ sắt và chất lơ lửng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian nghiên cứu tương đối ngắn, chỉ thực hiện tập trung từ tháng 01/2014 đến tháng 04/2014 (chuyển giao giữa cuối mùa khô và đầu mùa mưa), do đó chưa phản ánh được sự biến động đầy đủ về chất lượng và trữ lượng nước sinh hoạt qua các chu kỳ thời tiết khác nhau trong năm.
  • Quy mô mẫu phân tích trong phòng thí nghiệm còn hạn chế (9 mẫu nước phân tích tại 3 cụm xóm), chưa bao phủ chi tiết chất lượng nước tại toàn bộ 16 xóm thuộc địa bàn xã.
  • Các chỉ tiêu phân tích mới dừng lại ở 8 thông số lý hóa cơ bản (mùi vị, độ cứng, pH, DO, BOD, COD, Fe²⁺, Cl⁻). Văn bản chưa tiến hành phân tích các chỉ tiêu vi sinh vật quan trọng (Coliform, E.coli) và các kim loại nặng độc hại khác (As, Pb, Cd, Hg), cũng như chưa phân tích định lượng dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật dù đây là các nguy cơ ô nhiễm lớn được đề cập trong phần khảo sát thực trạng canh tác chè và lúa.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng quan trắc chất lượng nước định kỳ theo cả mùa khô và mùa mưa để đánh giá sự biến đổi nồng độ các chất ô nhiễm theo mùa.
  • Tăng cường mật độ lấy mẫu trên toàn bộ 16 xóm của xã Tiên Hội; bổ sung đầy đủ các chỉ tiêu xét nghiệm vi sinh (Coliform, vi khuẩn đường ruột) và phân tích dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất nông nghiệp trong nước ngầm và nước mặt.
  • Nghiên cứu, đánh giá sâu về hiệu quả kỹ thuật và chi phí vận hành của các mô hình bể lọc gia đình xử lý nước ngầm nhiễm hữu cơ và quy trình kiểm soát hàm lượng clo dư tại trạm cấp nước sinh hoạt tập trung.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Sinh viên chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Môi trường, Kỹ thuật Môi trường và Y tế Công cộng: Tài liệu cung cấp ví dụ thực nghiệm về phương pháp kết hợp điều tra phỏng vấn xã hội học cộng đồng với quy trình lấy mẫu, bảo quản mẫu nước ngầm theo TCVN 6000:1995 và phân tích các chỉ tiêu lý hóa cơ bản.
  • Cán bộ quản lý môi trường, chính quyền cấp xã và huyện: Báo cáo cung cấp các số liệu hiện trạng cấp nước sạch, tỷ lệ hộ nghèo, hạ tầng y tế - giáo dục và hiện trạng canh tác nông nghiệp của xã Tiên Hội năm 2013 - 2014, làm cơ sở xây dựng kế hoạch cấp nước và vệ sinh môi trường nông thôn mới.
  • Người dân và các hộ gia đình khu vực nông thôn: Phần hướng dẫn kỹ thuật cải tạo giếng đào (chiều cao thành giếng $\ge 0,8$m, lớp đệm sỏi cát đáy $0,2 - 0,4$m, kết cấu nền ngăn nước bẩn) cùng nguyên lý vận hành bể lọc chậm, giàn phun mưa là tài liệu thực hành hữu ích để tự cải thiện chất lượng nước sinh hoạt tại chỗ.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu các loại hình cấp nước sinh hoạt của toàn xã Tiên Hội theo số liệu thống kê năm 2013 gồm những loại nào? Theo thống kê năm 2013 của UBND xã Tiên Hội được tác giả trích dẫn, toàn xã có 1.678 công trình/loại hình cấp nước, trong đó giếng đào chiếm đa số với 1.269 cái (tỷ lệ 75,63%), nước cấp tập trung có 200 hộ sử dụng (tỷ lệ 11,92%), giếng khoan có 195 cái (tỷ lệ 11,62%) và bể chứa nước mưa có 14 cái (tỷ lệ 0,83%).

2. Kết quả phân tích chất lượng nước tại 9 điểm lấy mẫu ghi nhận những chỉ tiêu nào vượt ngưỡng quy chuẩn cho phép? Trong 9 mẫu nước phân tích tại phòng thí nghiệm, có hai chỉ tiêu vượt giới hạn cho phép:

  • Chỉ tiêu COD vượt ngưỡng quy định 4 mg/l của QCVN 09:2008/BTNMT tại mẫu 1 (4,41 mg/l tại xóm Đại Quyết) và mẫu 3 (4,60 mg/l tại xóm Phúc Lẩm).
  • Chỉ tiêu Clorua (Cl⁻) vượt quy chuẩn QCVN 02:2009/BYT (300 mg/l) và QCVN 09:2008/BTNMT (250 mg/l) tại hai mẫu nước cấp tập trung gồm mẫu 7 (344 mg/l) và mẫu 8 (364 mg/l) tại xóm Phố Dầu. Các chỉ tiêu pH, độ cứng và Fe²⁺ ở toàn bộ các mẫu đều nằm trong ngưỡng cho phép.

3. Khảo sát 60 hộ gia đình cho thấy nhận định của người dân về mức độ ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt như thế nào? Kết quả thu thập phiếu điều tra tại 60 hộ gia đình ghi nhận: 31 hộ cho rằng nguồn nước không ô nhiễm (51,66%); 18 hộ nhận định nước bị ô nhiễm trung bình (30,00%); 7 hộ cho rằng ít ô nhiễm (11,67%); và 4 hộ đánh giá nguồn nước bị ô nhiễm trầm trọng (6,67%). Các hộ phản ánh ô nhiễm trầm trọng nằm ở xóm Phố Dầu và xóm Bãi Cải, do nước có hiện tượng đục, mùi tanh, nhiều váng bọt và phải chuyển sang mua nước để ăn uống.

4. Vì sao chỉ tiêu Clorua (Cl⁻) lại tăng cao vượt chuẩn tại các mẫu nước cấp tập trung (mẫu 7 và mẫu 8)? Theo lý giải của tác giả, mẫu 7 và mẫu 8 lấy từ nguồn nước máy cấp tập trung của trạm cấp nước huyện. Clorua trong nước cấp tăng cao do clo được sử dụng làm hóa chất khử trùng trong quy trình xử lý nước. Tùy thuộc vào thời điểm sử dụng nước trong ngày (như sáng sớm hoặc chiều tối khi nhu cầu sử dụng cao, nước chảy mạnh), dư lượng clo khử trùng đưa vào đường ống chưa được kiểm soát và điều tiết tối ưu, dẫn đến hàm lượng clo dư trong nước cấp vượt tiêu chuẩn cho phép.

5. Đề tài đưa ra các yêu cầu kỹ thuật cụ thể nào để người dân cải tạo giếng đào gia đình đạt chuẩn vệ sinh? Tác giả đề xuất quy cách kỹ thuật đối với giếng đào: thành giếng phải được xây bằng gạch hoặc ống bê tông đúc sẵn với chiều cao tối thiểu 0,8m so với mặt đất để chống sụt nở và ngăn nước bẩn mặt đất chảy vào; nền giếng đổ bê tông hoặc lát gạch có bố trí rãnh thoát nước thải dẫn ra xa; đáy giếng rải một lớp sỏi hoặc cát vàng dày từ 0,2 đến 0,4m đóng vai trò lớp lọc cơ học tự nhiên; và trang bị gầu sạch hoặc lắp bơm tay, bơm điện để lấy nước.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Phương Thảo đã phản ánh hiện trạng sử dụng và chất lượng nguồn nước sinh hoạt tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn đầu năm 2014. Kết quả quan trắc thực nghiệm và khảo sát cộng đồng đã chỉ ra các vấn đề môi trường cụ thể, bao gồm tình trạng ô nhiễm chất hữu cơ cục bộ tại các giếng đào tầng nông (COD vượt ngưỡng 4 mg/l) và dư lượng Clorua vượt tiêu chuẩn tại hệ thống nước máy tập trung. Trên cơ sở đó, công trình đề xuất các giải pháp kỹ thuật cải tạo giếng đào, ứng dụng mô hình lọc nước hộ gia đình kết hợp tuyên truyền giáo dục và nâng cao năng lực quản lý môi trường cấp cơ sở, đáp ứng yêu cầu cung cấp nước sạch phục vụ đời sống dân sinh.