Đặt vấn đề Cũng giống như đất và không khí nước là nguồn tài nguyên vô cùng quan trọng đối với con người và sinh vật trên trái đất. Có thể nói sự sống của con người và mọi sinh vật trên trái đất đều phụ thuộc vào nước. Tài nguyên nước rất phong phú và đa dạng, nước có trữ lượng lớn trên toàn thế giới với ¾ diện tích bề mặt trái đất là các đại dương nhưng tồn tại chủ yếu ở dạng rắn và lượng nước có thể sử dụng cho sinh hoạt lại khá hạn chế. Con người đã từng coi tài nguyên nước là vô hạn, chính vì thế đã sử dụng nước một cách lãng phí, thiếu hiệu quả.
Không những vậy cùng với sự phát triển của xã hội con người sử dụng nước ngày càng nhiều. Tuy nước là nguồn tài nguyên có khả năng tái tạo nhưng với mức độ sử dụng như hiện nay đã đưa nhiều quốc gia vào tình trạng thiếu nước. Vì vậy, để có thể đảm bảo nguồn tài nguyên nước phục vụ cho các hoạt động của con người và để bảo vệ nguồn nước khỏi bị suy thoái, cạn kiệt giúp cho việc quản lý, khai thác, sử dụng có hiệu quả các địa phương, khu vực, các ngành không ngừng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thông qua đó, mỗi tổ chức cũng như người dân nâng cao nhận thức tầm quan trọng của nước sạch đối với cuộc sống, đồng thời có ý thức đối với hành động, việc làm của mình để không gây thêm sự suy thoái, cạn kiệt đối với nguồn tài nguyên quan trọng này. Tiên Hội là một xã thuộc huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên nền kinh tế còn chậm phát triển, chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn.
Tuy vậy trong thời gian qua cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội thì vấn đề môi trường trên địa bàn xã đang bộc lộ nhiều bất cập. Môi trường đất, môi trường không khí, môi trường nước đang dần bị ô nhiễm kéo theo đó là ô nhiễm nước sinh hoạt. Điều này đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống và sức khỏe của người dân. Nguồn nước dùng cho sinh hoạt tại xã Tiên Hội chủ yếu là nước giếng.
Trên địa bàn có sông Công chảy qua, là 2 một thủy vực rất quan trọng trong việc cấp nước cho sản xuất nông nghiệp, sinh hoạt cũng như các hoạt động khác. Tuy nhiên do các hoạt đông phát triển kinh tế, hoạt động sản xuất gạch trái phép… bên cạnh đó là một xã thuần nông chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, do lạm dụng phân bón, hóa chất BVTV, cùng với chất thải chăn nuôi, rác thải, nước thải sinh hoạt chưa được thu gom, xử lý. đã gây ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân trên địa bàn xã. Xuất phát từ thực trạng chung của việc sử dụng nước sinh hoạt của người dân tại các vùng nông thôn, để đánh giá chất lượng nước đang sử dụng tại địa phương, tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm, qua đó đưa ra một số giải pháp để khắc phục những nguy cơ ô nhiễm, đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch tại địa phương.
Được sự đồng ý của Ban Giám Hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Môi Trường, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Lan - Giảng viên khoa Môi trường, trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên. Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá chất lượng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên”.2 Mục đích, yêu cầu và ý nghĩa của đề tài 1.1 Mục đích của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Tìm ra những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nước trên địa bàn xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp khắc phục, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm nước sinh hoạt và cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng nước sinh hoạt, đáp ứng nhu cầu nước sạch của người dân địa phương.Yêu cầu của đề tài - Phản ánh đúng hiện trạng môi trường nước sinh hoạt tại xã Tiên Hội, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. - Đảm bảo tài liệu, số liệu đầy đủ, trung thực, khách quan. - Các mẫu nghiên cứu và phân tích đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực nghiên cứu. - Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước chính xác.
- Đảm bảo những kiến nghị, đề nghị đưa ra tính khả thi, phù hợp với điều kiện địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập: Rèn luyện cho bản thân đức tính tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu. Vận dụng kiến thức đã học vào trong nghiên cứu thực tiễn. - Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ kết luận của đề tài giúp ta thấy được hiện trạng môi trường nước sinh hoạt để đề xuất một số giải pháp phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng nước sạch của người dân tại địa phương.
4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Khái niệm môi trường Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật. Khái niệm ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật. Nước và một số khái niệm có liên quan * Nguồn nước (Water Resources): là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, hồ, ao, đầm, biển, các tầng chứa nước dưới đất, mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.
* Nước sạch (Clean Water): Nước sử dụng đạt yêu cầu vệ sinh và an toàn sức khỏe theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế. - Nước sạch là nước đảm bảo các yêu cầu sau: + Nước trong, không màu + Không có mùi lạ, không có tạp chất + Không có chứa các chất tan có hại + Không có mầm bệnh. - Các nguồn nước tự nhiên hoặc qua xử lý đạt Tiêu chuẩn nước sạch cho sinh hoạt và ăn uống đều là các nguồn nước sạch, bao gồm: + Nước sạch cơ bản: Là nguồn nước có điều kiện đảm bảo chất lượng nước sạch và được kiểm tra theo dõi chất lượng nước thường xuyên. + Nước sạch quy ước: 5 • Nước máy hoặc nước cấp từ các trạm nước.
• Nước giếng khoan có chất lượng tốt và ổn định. • Nước mưa hứng và trữ sạch. • Nước mặt (nước sông, suối, rạch, ao) có xử lý lắng trong và tiệt trùng. * Nước sinh hoạt: là nước sạch hoặc nước có thể dùng cho ăn, uống, vệ sinh của con người.
* Nguồn nước sinh hoạt: là nguồn nước có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc có thể xử lý thành nước sinh hoạt. * Ô nhiễm nguồn nước là sự biến đổi tính chất vật lý, tính chất hóa học và thành phần sinh học của nước không phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. * Suy thoái nguồn nước là sự suy giảm về số lượng, chất lượng nguồn nước so với trạng thái tự nhiên hoặc so với trạng thái của nguồn nước đã được quan trắc trong các thời kỳ trước đó. * Cạn kiệt nguồn nước là sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng của nguồn nước, làm cho nguồn nước không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác, sử dụng và duy trì hệ sinh thái thủy sinh.
* Phát triển tài nguyên nước: là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác sử dụng bền vững TNN và nâng cao giá trị TNN. * Bảo vệ tài nguyên nước: Là biện pháp nhằm phòng chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển TNN (Dư Ngọc Thành 2012) [4]. Cơ sở thực tiễn Vai trò của nước Nước tham gia vào thành phần cấu trúc sinh quyển, điều hòa các yếu tố khí hậu, đất đai và sinh vật. Nước còn đáp ứng những nhu cầu của con người 6 trong sinh hoạt hàng ngày, tưới tiêu cho nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, sản xuất điện năng và tạo ra nhiều cảnh quan đẹp.
Nước là nguồn tài nguyên tái tạo, bao phủ ¾ bề mặt Trái đất. Trong đó nước biển chiếm 97 %, nước ao, hồ, sông, suối và nước ngầm chỉ chiếm 1% nhưng lại là nguồn nước quan trọng đối với con người là nguồn cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất công- nông –ngư nghiệp. Nói đến sự sống là nói đến nước nó là nhu cầu cơ bản của mọi sự sống trên Trái đất và cần thiết cho các hoạt động kinh tế - xã hội của loài người. Nước rất quan trọng và cần thiết đối với chúng ta.
Ở những nước phát triển mỗi người cần 100 – 200 lít nước sạch mỗi ngày, còn ở các nước chậm phát triển tối thiểu cũng cần 40 – 50 lít nước sạch dùng cho sinh hoạt. Mức trung bình để đảm bảo cho sinh hoạt của mỗi người khoảng 60 – 80 lít mỗi ngày. Trong đó chỉ khoảng 3 – 3,5 lít nước sạch dùng cho ăn uống. Ở đâu có nước ở đó có sự sống [7].
* Đối với cơ thể con người Nước có vai trò đặc biệt quan trọng với cơ thể, con người có thể nhịn ăn được vài ngày, nhưng không thể nhịn uống nước. Đối với cơ thể nước còn quan trọng hơn cả chất đạm, chất béo, chất đường và muối khoáng. Nước chiếm khoảng 70% trọng lượng cơ thể, 65-75% trọng lượng cơ, 50% trọng lượng mỡ, 50% trọng lượng xương. Nước tồn tại ở hai dạng: nước trong tế bào và nước ngoài tế bào.
Nước ngoài tế bào có trong huyết tương máu, dịch limpho, nước bọt. Huyết tương chiếm khoảng 20% lượng dịch ngoài tế bào của cơ thể (3-4 lít). Nước tham gia vào việc hình thành các dịch tiêu hóa, giúp cơ thể hấp thụ các chất dinh dưỡng cũng như tạo thành các chất lỏng trong cơ thể, thúc đẩy quá trình trao đổi chất. Nước đóng vai trò quan trọng để các phản ứng hóa học và sự trao đổi chất diễn ra không ngừng trong cơ thể.
Nước là một dung môi, nhờ đó tất cả các chất dinh dưỡng được đưa vào cơ thể, sau đó được chuyển vào máu dưới dạng dung dịch nước. Nước còn giúp các phế nang luôn ẩm ướt, có lợi cho việc hô hấp.