Đặt vấn đề Nước là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Con người, động - thực vật sẽ không tồn tại được nếu thiếu nước. Nguồn nước sạch luôn gắn liền với mọi hoạt động sống của con người. Hơn nữa, đất nước ta đang trong thời kì ngày càng phát triển mạnh về cả ngành công nghiệp cũng như nông nghiệp.
Cùng với sự phát triển của các ngành và của đất nước thì nhu cầu của người dân ngày càng cao, cũng như nhu cầu sử dụng nguồn nước sạch đảm bảo về chất lượng của người dân ngày càng được quan tâm hơn. Con người có thể thiếu chỗ ở, thiếu thức ăn nhưng không thể tồn tại nếu thiếu nước. Như chúng ta cũng đã biết, nước chiếm đến 80 % trọng lượng cơ thể. Trên bề mặt toàn cầu nước chiếm đến 75 % diện tích, với một lượng khoảng 1,5 tỉ km3 con số khá lớn có thể đủ dùng mãi mãi cho con người trên thế giới.
Nhưng với sự phát triển của CNH – HĐH hiện nay ngoài những mặt có lợi của nước còn xuất hiện nhiều những hậu quả nghiêm trọng, trong đó ô nhiễm nước là vấn đề nghiêm trọng rất được quan tâm, vừa là nguyên nhân vừa là hệ quả của sự hủy hoại môi trường tự nhiên. Trước sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, chưa được đồng bộ về kĩ thuật và khâu xử lí đó là nguyên nhân dẫn đến sự suy thoái trầm trọng của nguồn nước. Trước những tình hình đó, các nước trên thế giới không ngừng đẩy mạnh các hoạt động nhằm bảo vệ môi trường cũng như nguồn nước. Song song với quá trình phát triển CNH –HĐH, việc nâng cao mức sống của người dân là một vấn đề cần quan tâm.
Hiện nay nước ta cũng đã có nhiều chính sách ưu đãi với những hộ gia đình sống ở vùng sâu, vùng xa, nhưng đời sống của người dân phần lớn vẫn chưa được cải thiện, nhiều nơi vẫn không có nguồn nước sạch để sử dụng cho sinh hoạt hàng ngày. 1 n Hiện tại tài nguyên nước ở Việt Nam là có hạn và đang phải chịu tác động nghiêm trọng trước tình trạng ô nhiễm nguồn nước và sử dụng nước qua mức. Ở nước ta 62 % (khoảng 570 tỉ m3) lượng nước là từ lãnh thổ các quốc gia khác ở thượng lưu chảy vào. Lượng nước tạo ra trong lãnh thổ Việt Nam chỉ khoảng 325 tỉ m3 /năm.
Vậy lượng nước không thật dồi dào, nhất là vào mùa khô khi các quốc gia ở thượng nguồn sử dụng nhiều nước. Ngoài ra, việc bùng nổ về dân số, càng làm nhu cầu sử dụng nước tăng cao. Chính vì những nguyên nhân trên làm cho nguồn tài nguyên nước bị suy giảm trầm trọng về cả chất lượng và số lượng. Thành phố Thái Nguyên là một trong những thành phố lớn của miền Bắc, với dân số 330.707 người (2010), mật độ dân cư khá đông do tập trung nhiều trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông trên địa bàn.
Trải qua nhiều năm xây dựng và phát triển, quá trình đô thị hóa đã tác động không nhỏ đến môi trường như: không khí, đất, nước với các mức độ khác nhau. Ngoài những nguyên nhân khách quan như điều kiện tự nhiên, vị trí địa lí thì nguyên nhân chủ quan ở đây là sự gia tăng các hoạt động kinh tế - xã hội, dân cư, thiếu quy hoạch, thiếu sự quan tâm trong công tác quản lý môi trường của cơ quan quản lý cấp cơ sở. Do đó cần phải đưa ra các biện pháp kịp thời để ngăn ngừa, hạn chế và khắc phục giảm thiểu ô nhiễm môi trường đặc biệt là nguồn nước nhằm đảm bảo chất lượng sống cho người dân cũng như phát triển kinh tế - xã hội ngày càng bền vững. Bắt nguồn từ hiện trạng sử dụng nước sinh hoạt của người dân thành phố Thái Nguyên, để đánh giá chất lượng nguồn nước cấp cho sinh hoạt của người dân tại thành phố.
Được sự đồng ý quả Ban giám hiệu trường ĐH Nông Lâm, ban chủ nhiệm khoa Tài Nguyên và Môi Trường, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS. Dư Ngọc Thành em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá chất lượng nguồn nước cấp cho sinh hoạt tại công ty cổ phần nước sạch Thái Nguyên cho thành phố Thái Nguyên”. Mục đích, mục tiêu, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích - Nắm được tình hình sử dụng nước sinh hoạt trên địa bàn thành phố Thái Nguyên.
- Đánh giá được chất lượng của nguồn nước cấp cho sinh hoạt của công ty cổ phần nước sạch Thái Nguyên. - Đánh giá được sự hiểu biết của người dân về chất lượng nguồn nước sinh hoạt mà họ đang sử dụng do công ty cấp. Mục tiêu - Nắm được quy trình hoạt động và công tác quản lí của công ty. - Đề xuất biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử lí, chất lượng hoạt động và công tác quản lí.
- Tạo cho sinh viên có cơ hội vận dụng lí thuyết vào thực tiến, rèn luyện khả năng tổng hợp phân tích số liệu. - Là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm trên thực tiến, bổ sung tư liệu cho học tập và sau khi ra trường. Yêu cầu - Thông tin và số liệu thu được phải chính xác, trung thực, khách quan. - Các mẫu nghiên cứu và phân tích phải đảm bảo tính khoa học và đại diện cho khu vực cần nghiên cứu.
- Điều tra thu thập thông tin, phân tích để xác định các nguồn, yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước sinh hoạt. - Các kết quả phân tích phải được so sánh với tiêu chuẩn, quy chuẩn môi trường Việt Nam. - Kết quả phân tích các thông số về chất lượng nước phải chính xác. - Những kiến nghị đưa ra phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của công ty và TPTN.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Áp dụng kiến thức đã học của nhà trường đưa vào thực tế nghiên cứu. - Nâng cao hiểu biết về kiến thức thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Tích lũy kinh nghiệm sau khi ra trường.
- Bổ sung tư liệu học tập sau này. Ý nghĩa thực tiễn - Phản ánh thực trạng về môi trường nước sinh hoạt tại thành phố Thái Nguyên. - Tạo số liệu làm cơ sở cho công tác lập kế hoạch xây dựng chính sách bảo vệ môi trường và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho tỉnh. - Cảnh báo các vấn đề cấp bách và nguy cơ tiềm ẩn về ô nhiễm suy thoái môi trường nước.
- Nâng cao chất lượng nước phục vụ cho người dân địa bàn. 4 n Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về tài ngyên nước - Tài nguyên nước là các nguồn nước con người có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau. Nước được dùng trong các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, dân dụng, giải trí và môi trường.
Hầu hết các hoạt động trên đều cần nước ngọt, 97% nước trên Trái Đất là nước muối, chỉ 3% còn lại là nước ngọt. Trong 3% nước ngọt có trên Trái Đất thì có khoảng 3/4 lượng nước mà con người không sử dụng được vì nó nằm quá sâu trong lòng đất, bị đóng băng, ở dạng hơi trong khí quyển và tuyết trên lục địa, chỉ có khoảng 0,5% nước ngọt hiện diện trong sông, suối, ao, hồ mà con người đã và đang sử dụng. Nếu ta trừ đi phần ô nhiễm thì chỉ có khoảng 0,003% là nước ngọt mà con người có thể sử dụng được. - Nước trên hành tinh của chúng ta phát sinh từ 3 nguồn: bên trong lòng đất, từ các thiên thạch và từ tầng trên của khí quyển, trong đó nguồn gốc từ bên trong lòng đất là chủ yếu.
Nước có nguồn gốc từ bên trong lòng đất được hình thành ở lớp vỏ giữa của quả đất do quá trình phân hóa các lớp nham thạch ở nhệt độ cao tạo ra, sau đó theo các khe nứt của lớp vỏ ngoài nước thấm dần qua lớp vỏ ngoài biến thành thể hơi, bốc hơi và ngưng tụ thành thể lỏng và rơi xuống mặt đất. - Nước là nguồn tài nguyên rất quan trọng, là một trong những thành phần không thể thiếu của sự sống và môi trường. Nếu không có nước thì sự sống trên trái đất không thể tồn tại và phát triển bền vững được. Nước có thể chia ra làm nhiều loại khác nhau như : nước mặn, nước ngọt, nước mặt, nước ngầm…qua đó căn cứ vào mục đích sử dụng dưới góc độ luật môi trường, nguồn nước được hiểu là “ một thành phần cơ bản của sự sống”.
Nước đưa 5 n vào cơ thể con người nhiều nguyên tố cần thiết cho sự sống như iôt (I), sắt (Fe), flo (F), kẽm (Zn).Do đó nước dùng trong cuộc sống cần phải đảm bảo cả về chất lượng và số lượng. - Nước mặt là nước trong sông, hồ hoặc nước ngọt trong vùng đất ngập nước. Nước mặt được bổ sung một cách tự nhiên bởi giáng thủy và chúng mất đi khi chảy vào đại dương, bốc hơi và thấm xuống đất. Sư bố hơi nước trong đất, ao ,hồ, sông, biển, sự thoát hơi nước ở động - thực vật, hơi nước vào không khí sau đó ngưng tụ lại trở về thể lỏng rơi xuống đất hình thành mưa.
Nước mưa chảy trào trên mặt đất từ nơi cao đến nơi thấp tạo nên các dòng chảy hình thành nên thác, ghềnh, sông và được tích tụ ở nơi thấp trên lục địa hình thành hồ hoặc đưa thẳng ra biển hình thành nên lớp nước trên bề mặt của vỏ trái đất. Trong quá trình chảy tràn, nước hòa tan các muối khoáng trong các nham thạch nơi nó chảy qua, một số vật liệu nhẹ không hòa tan được cuốn theo dòng chảy và bồi lắng ở nơi khác thấp hơn, sự tích tụ muối khoáng trong nước biển sau một thời gian dài của quá trình lịch sử dần làm cho đất càng trở nên mặn. Có 2 loại nước mặt là nước ngọt hiện diện trong sông, ao, hồ trên lục địa và nước mặt hiện diện trong biển, đại dương, hồ nước mặn trên lục địa. - Nước ngầm hay còn gọi là nước dưới đất, là nước ngọt được chứa trong các lỗ rỗng của đất hoặc đá.
Nó cũng có thể được chứa trong các tầng ngậm nước bên dưới mực nước ngầm. Đôi khi người ta còn phân biệt nước ngầm nông, sâu và nước chôn vùi. Nước ngầm là một dạng nước dưới đất, tích trữ trong các lớp đất đá trầm tích bở rời như cặn, sạn, cát bột kết, trong các khe nứt, có thể khai thác cho hoạt động của con người. Nước ngầm cũng có đặc điểm như nước mặt: nguồn vào, nguồn ra và chứa.